Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm về hoạt động nhận thức 1.1 Khái niệm hoạt động Hoạt động là tổ hợp các quá trình nhận thức và hành vi được điều chỉnh bởi một mục đích có ý thức (theo [14,tr. Theo quan điểm lý thuyết về hoạt động, A.Leontiev: Hoạt động “là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể” (theo [10,tr. Theo quan điểm triết học và tâm lí học, hoạt động được xem là một phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt động chính là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa con người và thế giới.
Bằng hoạt động và qua hoạt động mỗi các thể hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất đạo đức của mình tức là mỗi cá thể tự sinh thành ra mình, tự tạo ra nhân cách của mình. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa bản thân với thế giới bên ngoài, giữa bản thân với người khác hoặc chính họ. Trong quá trình ấy con người bọc lộ tâm lí, ý trí, tính cách. Nói riêng trong lao động đó là qua trình chuyển năng lực người thành sản phẩm lao động.
Trong học tập thì đó là quá trình chuyển năng lực thành tri thức. Tóm lại, khi hoạt động con người vừa thay đổi thế giới bên goài và bản thân hay nói khác đi con người tạo ra sản phẩm về thế giới về tâm lí của mình. Con người được phát triển trong hoạt động và bằng hoạt động.2 Đặc điểm của hoạt động Hiểu như trên, hoạt động có những đặc điểm sau đây: a. Chủ thể của hoạt động – tức là người thực hiện các hành động – làm việc theo kế họach, ý đồ nhất định.
Trong quá trình hoạt động, con người biết 8 cách tổ chức các hành động tạo thành hệ thống (tổ hợp), lựa chọn, điều khiển linh hoạt các hoạt động phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh, tình huống. Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng của nó. Đối tượng của hoạt động là sự vật, tri thức, v. Con người thông qua hoạt động để tạo tác, chiếm lĩnh, sử dụng nó (đối tượng) nhằm thỏa mãn nhu cầu.
Hoạt động bao giờ cũng là hoạt đông có đối tượng, nghĩa là hoạt động luôn nhằm vào, tác động vào cái gì đấy để thay đổi nó hoặc chuyển hóa nó vào đầu óc của chủ thể, tạo nên một cấu tạo tâm lý mới. Đối tượng trong dạy học toán nói chung, dạy học hình học nói riêng đó là những đối tượng toán học, những mối liên hệ, qua hệ, các quy luật giữa các đối tượng cần khám phá, cần làm bộc lộ nhờ hoạt động chủ thể. Hoạt động có tính mục đích. Đây là nét đặc trưng thể hiện trình độ, năng lực người trong việc chiếm lĩnh đối tượng.
Con người sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm, phương tiện để phát hiện, khám phá đối tượng chuyển thành ý thức, năng lực của chính mình (chủ thể hóa khách thể). Tính mục đích định hướng cho chủ thể họat động, hướng tới chiếm lĩnh đối tượng. Như vậy, nói đến hoạt động bao giờ cũng có sự gắn kết giữa chủ thể, đối tượng và mục đích hoạt động. Cấu trúc của hoạt động Hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu và ta nói hoạt động được thúc đảy bởi một động cơ nhất định, động cơ là cái quan trọng nhất.
Có hai loại động cơ, đó là động cơ nội và động cơ ngoại. Theo Santrock (2004), động cơ ngoại liên quan đến việc làm điều này nhưng nhằm để đạt một điều khác, là phương tiện để đạt được mục đích. Động cơ ngoại thường bị ảnh hưởng bởi sự khích lệ bên ngoài như phần thưởng hay hình phạt. (theo [14,tr28]) Động cơ nội chính là động lực làm một việc gì vì lợi ích của chính công việc đó, là mục đích trong bản thân công việc.28]) 9 Trong lĩnh vực học tập, động cơ học tập hằm thỏa mãn nhu cầu học hỏi, năng cao kiến thức là động cơ nội.
Động lực học tập do áp lực gia đình, do giáo viên nhắc nhở hoặc do nghề nghiệp tương lai là động cơ ngoại.28]) Động cơ là mục đích của hoạt động và là mục đích bộ phận. Mục đích bộ phận là mục đích của từng hoạt động. Hành động chính là bộ phận hợp thành của hoạt động. Một hoạt động có thể gồm một hay nhiều hành động khác nhau và ngược lại.
Một hành động có thể tham gia vào một hay nhiều hoạt động khác nhau. Hành động nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể trong điều kiện cụ thể và tùy vào mục đích và điều kiện cụ thể thực hiện nhiệm vụ. Các cách thức đó chính là thao tác tạo nên hoạt động. Rõ ràng mục đích thực hiện được là nhờ thực hiện các thao tác và ngược lại các thao tác thực hiện được là nhờ công cụ, thao tác, phương tiện bên ngoài.4 Hoạt động học tập Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của mỗi con người, nhằm mục đích lĩnh hội các tri thức, kỹ năng và kỹ xảo mới.
Đối tượng của hoạt động học tập là các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh cần lĩnh hội và phát triển. Do vậy hoạt động học tập là hoạt động có ý thức nhằm mục đích làm thay đổi bản thân của chủ thể hoạt động học tập. Leontiev, hoạt động học tập bao gồm: - Nhiệm vụ học tập: Nội dung của nhiệm vụ học tập tạo nên các hành động mà học sinh phải tiến hành. - Hành động học tập: Là cách diễn ra hoạt động học tập (cách thực hiện nhiệm vụ học tập), gồm: Hành đông phân tích; hành động mô hình hóa; hành động khái quát hóa; hành động cụ thể hóa; hành động kiểm tra, đánh giá.
- Hành động điều chỉnh: Học sinh phải xem xét và điều chỉnh các hành động của mình sao cho phù hợp với tình huống học tập cụ thể. - Đánh giá: Đánh giá có mục đích là để xác định học sinh có đạt được kết quả mong muốn hay không. 10 Như vậy, hoạt động học tập ngoài yếu tố động cơ học tập còn có nhiệm vụ học tập, hành động học tập, hành động điều chỉnh và đánh giá. Điểm đặc biệt cần lưu ý là trong hoạt động học tập, bản thân học sinh phải tiến hành các hành động học tập (phân tích, mô hình hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa…), làm cơ sở cho việc lĩnh hội các tri thức khoa học.
Nói cách khác, học sinh phải tích cực chủ động và trực tiếp hành động để đạt được mục đích học tập và hoàn thành nhiệm vụ học tập. Qua đó các em những chiếm lĩnh tri thức khoa học mà xã hội mong muốn mà còn phát triển khả năng tự học hoặc kỹ năng tự học suốt đời.1 Khái niệm về nhận thức Theo tự điển Tiếng Việt 1992, nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thới giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh một cách biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tự giác, tích cực, năng động, sáng tạo trên cơ sở tiễn thực cuộc sống nhằm mục đích sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan.2 Các trình độ nhận thức Nhận thức kinh nghiệm là trình độ nhận thức được hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, xã hội hoặc qua thí nghiệm khoa học. Nhận thức lý luận là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong việc khái quát bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thực tiễn.
Nhận thức thông thường là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người. 11 Nhận thức khoa học là nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiêm cứu. Tóm lại nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận cũng như nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là những trình độ nhận thức khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau trong qua trình phát triển nhận thức của con người.3 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Thực tiễn là cơ sở của quá trình nhận thức: Mọi nhận thức suy đến cùng đều nảy sinh trên cơ sở nhu cầu giải quyết những vấn đề từ thực tiễn. Đông thời chính thực tiễn lại cung cấp cho nó các căn cứ hiện thực để nhận thức giải quyết các vấn đề đó.
Thực tiễn là động lực của sự phát triển của nhận thức: Sự phát triển của nhận thức theo hướng nào và phát triển với tốc độ nào, suy đến cùng đều do sự thúc đẩy của nhu cầu phát triển thực tiễn theo hướng nào và mức độ cấp bách nào. Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Mọi nhận thức, từ trực tiếp hay gián tiếp, suy đến cùng đều là nhằm tạo ra các tri thức để giải đáp các vấn đề của thực tiễn. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý (tiêu chuẩn cuối cùng trong việc xác định tính chính xác của tri thức); quá trình nhận thức nào thì cuối cùng cũng dẫn tới việc sáng tạo ra các tri thức, nhưng những tri thức đó có chính xác (tức là có phù hợp với thực tế hay không) thì cuối cùng đều chỉ có thể được kiểm tra, chứng minh bởi thực tiễn.3 Hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học toán 1.1 Khái niệm về hoạt động nhận thức a. Hoạt động nhận thức Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu 12 tượng đến thực tiễn.
Con đường nhận thức có được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong. Hoạt động nhận thức toán học Theo tác giả Đào Tam: HĐNT toán học là quá trình tư duy dẫn tới lĩnh hội các tri thức toán học, nắm được ý nghĩa các tri thức đó: Xác định được các mối quan hệ nhân quả và các mối liên hệ khác của các đối tượng toán học được nghiêm cứu ( khái niệm; quan hệ; quy luật toán học.); từ đó vận dụng được tri thức toán học giải quyết các vấn đề thực tiễn.