Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nền giáo dục phổ thông Việt Nam đang thực hiện quá trình chuyển đổi căn bản từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nhấn mạnh việc học sinh vận dụng tri thức vào thực tiễn đời sống. Định hướng này được quán triệt theo Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển và hội nhập quốc tế, nhân tố con người giữ vai trò then chốt, đòi hỏi giáo dục phải đào tạo những công dân có khả năng tự chủ, sáng tạo và thích ứng cao.

Chương trình Địa lí 11 Trung học phổ thông (THPT) tập trung vào mảng kiến thức Địa lí kinh tế - xã hội thế giới, giới thiệu về các khu vực và các quốc gia tiêu biểu. Những kiến thức này vừa mang tính mới mẻ vừa kích thích trí tò mò, khám phá của học sinh lứa tuổi 17–18. Ở độ tuổi này, học sinh đã hình thành nền tảng nhận thức và tư duy trừu tượng, có nhu cầu khẳng định bản thân và giao tiếp tập thể. Tuy nhiên, sự khác biệt về năng lực học tập và sở thích cá nhân đòi hỏi giáo viên phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có phương pháp dạy học dự án (DHDA), nhằm nâng cao hiệu quả lĩnh hội kiến thức.

Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu quy trình và cách thức sử dụng phương pháp dự án trong dạy học Địa lí lớp 11 THPT, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dự án trong dạy học Địa lí lớp 11 THPT.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp dự án trong dạy học Địa lí lớp 11 tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
  3. Nghiên cứu cách thức thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án trong chương trình Địa lí 11 THPT.
  4. Thiết kế một số dự án dạy học cụ thể thuộc chương trình Địa lí 11 THPT.
  5. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các dự án đã thiết kế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học dự án; nội dung chương trình Địa lí 11 THPT (Ban cơ bản); hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh lớp 11.
  • Phạm vi nghiên cứu: Chương trình Địa lí 11 THPT (Ban cơ bản); địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại hai trường THPT thuộc tỉnh Quảng Nam (Trường THPT Sào Nam và Trường THPT Thái Phiên) trong thời gian từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận

Đề tài kế thừa và tổng hợp cơ sở lý luận về phương pháp dự án từ các công trình sư phạm trong và ngoài nước:

  • Khái niệm dự án học tập xuất phát từ quan điểm của W. Kilpatrick (1918) với bài viết "The Project Method", nhấn mạnh hoạt động có chủ ý, toàn tâm toàn ý của người học trong môi trường xã hội; quan điểm của Karl Frey (Đức) tập trung vào việc tạo ra sản phẩm thực hành cụ thể.
  • Định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo và mô hình dạy học dự án theo chương trình Giáo dục của Microsoft (Partners in Learning - PIL), coi DHDA là mô hình học tập phức hợp, dài hạn, liên môn và lấy học sinh làm trung tâm.
  • Tài liệu lý luận dạy học của các tác giả Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier và các nghiên cứu chuyên ngành phương pháp dạy học Địa lí của PGS.TS Đậu Thị Hòa, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Liên (2014).

Tác giả xác định ba đặc điểm cốt lõi của phương pháp dạy học dự án gồm:

  • Định hướng học sinh: Tôn trọng hứng thú cá nhân, đòi hỏi tính tự lực cao và tinh thần cộng tác nhóm.
  • Định hướng thực tiễn: Chủ đề dự án xuất phát từ thực tiễn kinh tế - xã hội, đời sống; nội dung mang tính liên môn, giải quyết vấn đề phức hợp.
  • Định hướng sản phẩm: Quá trình học tập dẫn đến sự hình thành sản phẩm vật chất hoặc phi vật chất có thể công bố, triển lãm hoặc trình bày.

Hệ thống câu hỏi định hướng (CHĐH) được xây dựng theo ba cấp độ: Câu hỏi khái quát (CHKQ), Câu hỏi bài học (CHBH) và Câu hỏi nội dung (CHND).

Về mặt chương trình, Địa lí 11 Ban cơ bản có thời lượng 52 tiết/năm (35 tuần, trung bình 1,5 tiết/tuần), gồm Phần A (Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới) và Phần B (Địa lí khu vực và quốc gia). Tỷ lệ các tiết thực hành chiếm 8/35 tiết lý thuyết (tương đương 23%), tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành kỹ năng và xây dựng dự án.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu từ sách báo, giáo trình, luận án; phương pháp phân loại để hệ thống hóa cấu trúc dự án; phương pháp lịch sử để nghiên cứu quá trình phát triển của phương pháp dự án trong giáo dục.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu giáo viên và học sinh; phương pháp quan sát giờ dạy; phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát định lượng, lập bảng phân phối tần suất, tính toán điểm trung bình và các tham số đặc trưng để đối chiếu kết quả giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Tài liệu chương trình, phân phối thời lượng và sách giáo khoa Địa lí 11 Ban cơ bản.
  • Kết quả khảo sát thực tế vào tháng 2 và tháng 3 năm 2018 tại hai trường THPT Sào Nam và THPT Thái Phiên (Quảng Nam), với quy mô mẫu gồm 12 giáo viên dạy Địa lí và 363 học sinh khối lớp 11.
  • Điểm số và biên bản đánh giá từ ba bài thực nghiệm sư phạm tại các lớp thực nghiệm và đối chứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp dự án trong dạy học Địa lí 11 Trung học phổ thông

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học của DHDA, phân loại dự án theo chuyên môn (trong môn, liên môn, ngoài chuyên môn), theo sự tham gia của người học (cá nhân, nhóm, khối, trường), theo thời gian (dự án nhỏ 2–6 giờ, trung bình 1 tuần/40 giờ, lớn nhiều tuần) và theo nhiệm vụ (tìm hiểu, nghiên cứu, thực hành kiến tạo sản phẩm, hỗn hợp). Tác giả phân tích đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi 15–18, khẳng định học sinh lớp 11 đã phát triển năng lực tư duy lý luận, tính hoài nghi khoa học và nhu cầu giao tiếp tập thể, phù hợp với mô hình làm việc nhóm.

Về mặt thực tiễn, tác giả khảo sát tình hình triển khai tại tỉnh Quảng Nam. Số liệu tổng hợp phản ánh khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và việc áp dụng thực tế:

Nội dung điều tra ý kiến giáo viên (n = 12) Tùy chọn phản hồi Tỷ lệ (%)
Nhận thức về tính cần thiết của DHDA Rất cần thiết
Cần thiết
Bình thường
8,3%
75,0%
16,7%
Tần suất sử dụng DHDA trong dạy học Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Chưa bao giờ
0%
41,7%
16,7%
41,6%
Nội dung phù hợp nhất trong Địa lí 11 Phần B (Địa lí khu vực và quốc gia)
Phần A (Khái quát KT-XH thế giới)
Tất cả các bài học
50,0%
33,3%
8,4%
Khó khăn lớn nhất khi thực hiện (đa lựa chọn) Quỹ thời gian hạn hẹp (tiết 45 phút)
Trình độ, điều kiện của học sinh
Kỹ năng lập kế hoạch cho dự án
100%
75,0%
57,3%
Yếu tố quyết định thành công của dự án Năng lực của giáo viên
Sự hợp tác của các nhóm học sinh
Cơ sở vật chất nhà trường
100%
100%
75,0%

Về phía học sinh, số liệu điều tra 363 học sinh lớp 11 ghi nhận:

  • 76,6% học sinh có hứng thú với việc học theo dự án (35,4% rất hứng thú, 41,2% hứng thú).
  • 61,8% nhận định học theo dự án đem lại hiệu quả cao hơn cách học truyền thống.
  • Khó khăn lớn nhất học sinh gặp phải là tốn nhiều thời gian (57,5%) và khó định hướng sản phẩm của dự án (41,2%).
  • Các năng lực học sinh tự nhận thấy tiến bộ nhiều nhất gồm năng lực hợp tác (85,2%), năng lực giải quyết vấn đề (85,2%) và năng lực giao tiếp (82,4%).

Chương 1 kết luận rằng dù cơ sở vật chất tại các trường (phòng học 3 tầng, máy chiếu, ti vi tại THPT Sào Nam và THPT Thái Phiên) và sự ủng hộ của Ban giám hiệu đã tạo tiền đề thuận lợi, phương pháp dự án vẫn hiếm khi được áp dụng do giáo viên thiếu kỹ năng thiết kế, áp lực thời lượng tiết học và sự phân hóa trình độ học sinh.

Chương 2: Thiết kế và tổ chức dự án trong dạy học Địa lí 11 Trung học phổ thông

Chương này đề xuất giải pháp sư phạm toàn diện nhằm áp dụng DHDA vào môn Địa lí lớp 11:

Năm nguyên tắc thiết kế:

  1. Đảm bảo phù hợp với nhu cầu của học sinh và do chính học sinh thực hiện.
  2. Đảm bảo bám sát chuẩn nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lí 11 và khai thác mối quan hệ liên môn.
  3. Đảm bảo gắn kết chặt chẽ với thực tiễn địa phương và thích ứng linh hoạt theo điều kiện từng trường.
  4. Đảm bảo tích hợp giáo dục giá trị sống và rèn luyện kỹ năng sống.
  5. Đảm bảo có sự hỗ trợ thích hợp của các phương tiện kỹ thuật và công nghệ thông tin hiện đại.

Quy trình 8 bước thiết kế dự án học tập:

  • Bước 1: Lựa chọn và xác định nội dung, đơn vị kiến thức trọng tâm của bài hoặc phần học.
  • Bước 2: Xác định loại hình dự án phù hợp (dự án tìm hiểu, nghiên cứu hoặc thực hành kiến tạo).
  • Bước 3: Xác định chủ đề dự án và phân rã thành các tiểu chủ đề cho các nhóm học sinh.
  • Bước 4: Xây dựng mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực), phân công các "vai" học tập và lập phiếu định hướng sản phẩm.
  • Bước 5: Viết bản tóm tắt bài dạy nhằm liên kết bài học với thực tế đời sống.
  • Bước 6: Thiết kế bộ câu hỏi định hướng theo 3 tầng bậc (CHKQ, CHBH, CHND).
  • Bước 7: Thiết lập kế hoạch và công cụ đánh giá đa chiều (giáo viên đánh giá, nhóm tự đánh giá và đánh giá chéo giữa các thành viên/nhóm).
  • Bước 8: Biên soạn tài liệu và nguồn học liệu hỗ trợ học sinh thực hiện nhiệm vụ.

Quy trình 3 giai đoạn tổ chức dạy học:

  • Giai đoạn 1: Chuẩn bị dự án: Giáo viên giới thiệu chủ đề, khơi gợi ý tưởng, học sinh thành lập nhóm, lựa chọn tiểu chủ đề và lập kế hoạch thực hiện.
  • Giai đoạn 2: Thực hiện dự án: Học sinh tiến hành thu thập dữ liệu, xử lý tài liệu, thảo luận nhóm và chế tạo sản phẩm; giáo viên giữ vai trò giám sát, định hướng và hỗ trợ kỹ thuật.
  • Giai đoạn 3: Tổng kết dự án: Học sinh tổ chức báo cáo, trưng bày hoặc thuyết trình sản phẩm; các nhóm và giáo viên tiến hành nhận xét, đánh giá kết quả và rút ra bài học kinh nghiệm.

Tác giả vận dụng quy trình này để xây dựng các giáo án thực nghiệm cụ thể gắn với các chủ đề thuộc phần Địa lí khu vực và quốc gia (như Nhật Bản, Liên bang Nga, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Đông Nam Á).

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc tổ chức kiểm nghiệm sư phạm tại Trường THPT Sào Nam và Trường THPT Thái Phiên (Quảng Nam). Nghiên cứu tiến hành 3 đợt bài thực nghiệm trên các cặp lớp thực nghiệm (TN - dạy học bằng phương pháp dự án) và lớp đối chứng (ĐC - dạy học bằng phương pháp truyền thống):

  • Thiết kế kế hoạch thực nghiệm đồng bộ về nội dung, giáo viên giảng dạy và hệ thống bài kiểm tra đánh giá kiến thức - kỹ năng.
  • Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích điểm số, lập bảng phân phối tần suất và tính toán các đại lượng đặc trưng (điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn).
  • Kết quả đo lường cho thấy điểm kiểm tra của học sinh ở các lớp thực nghiệm đạt mức trung bình cao hơn lớp đối chứng; tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm vượt trội hơn, đồng thời tỷ lệ điểm trung bình và yếu giảm đi rõ rệt.
  • Quan sát lớp học ghi nhận mức độ chủ động tham gia phát biểu, thảo luận nhóm và kỹ năng trình bày báo cáo của học sinh nhóm thực nghiệm có sự cải thiện so với phương pháp thông thường.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập được bức tranh thực trạng về việc dạy học dự án tại địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2018: 100% giáo viên được khảo sát thừa nhận hiếm khi hoặc chưa từng sử dụng phương pháp dự án thường xuyên, dù 75% đánh giá phương pháp này là cần thiết. 100% giáo viên xác nhận thời gian tiết học là trở ngại lớn nhất.
  • Chứng minh được tính hiệu quả và mức độ đáp ứng của học sinh: 76,6% học sinh hào hứng và 61,8% khẳng định học theo dự án giúp tiếp thu kiến thức tốt hơn so với cách học thông thường.
  • Thực nghiệm sư phạm tại 2 trường THPT (Sào Nam và Thái Phiên) xác nhận tính khả thi của quy trình 8 bước thiết kế và 3 giai đoạn tổ chức dự án, mang lại kết quả học tập và năng lực hợp tác cao hơn so với dạy học truyền thống.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả

Khóa luận đưa ra các kiến nghị đối với 4 nhóm đối tượng:

  1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo: Cần tổ chức các đợt tập huấn chuyên đề chuyên sâu, thực chất về kỹ thuật thiết kế DHDA cho giáo viên Địa lí; có cơ chế linh hoạt trong phân phối chương trình, giảm tải áp lực kiểm tra lý thuyết để dành thời lượng cho các DAHT liên môn hoặc ngoại khóa.
  2. Đối với Cán bộ quản lý nhà trường (Ban giám hiệu): Hỗ trợ tối đa về cơ sở vật chất (phòng máy, internet, máy chiếu), tạo điều kiện cho giáo viên kết hợp giờ dạy chính khóa với hoạt động trải nghiệm ngoài giờ lên lớp; hỗ trợ một phần kinh phí cho các dự án kiến tạo sản phẩm.
  3. Đối với Giáo viên Địa lí: Chủ động nâng cao năng lực sư phạm, tìm tòi chủ đề gắn với thực tiễn địa phương; thiết kế bộ tiêu chí đánh giá minh bạch ngay từ đầu; đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ thay vì làm thay học sinh.
  4. Đối với Học sinh: Cần nâng cao ý thức tự giác, chủ động cộng tác làm việc nhóm, loại bỏ thói quen ỷ lại; tích cực rèn luyện kỹ năng công nghệ thông tin và tìm kiếm thông tin khoa học.

Đóng góp mới của đề tài

Trong khi các nghiên cứu trước đây về DHDA chủ yếu tập trung vào chương trình Địa lí lớp 12 (như nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên, Nguyễn Hoàng Linh, Trần Thị Mai Vân) hoặc các môn học khác (Vật lí, Hóa học), khóa luận này là công trình đi sâu nghiên cứu và cụ thể hóa phương pháp thiết kế, tổ chức DHDA dành riêng cho chương trình Địa lí lớp 11 Ban cơ bản, gắn liền với khảo sát thực nghiệm tại các trường THPT tỉnh Quảng Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được văn bản ghi nhận

  • Dạy học dự án đòi hỏi quỹ thời gian chuẩn bị và thực hiện kéo dài, rất khó áp dụng đại trà cho mọi bài học trong điều kiện thời lượng quy định 45 phút/tiết của khung phân phối chương trình.
  • Phương pháp này không phù hợp với các nội dung lý thuyết mang tính trừu tượng cao, hệ thống hàn lâm hoặc các tiết rèn luyện kỹ năng đơn lẻ.
  • Quá trình thực hiện đòi hỏi trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật và chi phí vật chất nhất định, gây áp lực lên điều kiện kinh tế của học sinh và nhà trường.
  • Giáo viên lớn tuổi chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dự án từ bậc đại học, dẫn đến tâm lý e ngại, lúng túng khi xây dựng kế hoạch và tiêu chí đánh giá.
  • Phạm vi khảo sát và thực nghiệm mới giới hạn ở 2 trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (THPT Sào Nam và THPT Thái Phiên), chưa bao quát nhiều vùng miền khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng xây dựng ngân hàng các chủ đề dự án học tập cho toàn bộ các bài học thuộc Phần A và Phần B trong sách giáo khoa Địa lí 11.
  • Nghiên cứu lồng ghép phương pháp dự án Địa lí vào các hoạt động giáo dục tích hợp ngoài giờ lên lớp (giáo dục biến đổi khí hậu, hướng nghiệp, môi trường biển đảo).
  • Triển khai thực nghiệm trên phạm vi rộng hơn ở các trường THPT thuộc khu vực thành thị, nông thôn và miền núi để kiểm chứng mức độ thích ứng của phương pháp với các điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho các đối tượng và mục đích học thuật cụ thể:

  • Sinh viên ngành Cử nhân Sư phạm Địa lý: Tham khảo cách xác lập khung lý thuyết, cách lập bảng hỏi khảo sát thực trạng giáo dục và phương pháp thiết kế tiến trình bài giảng theo định hướng dự án.
  • Giáo viên Địa lí THPT: Có thể ứng dụng trực tiếp quy trình thiết kế 8 bước, quy trình tổ chức 3 giai đoạn và các nguyên tắc xây dựng bộ câu hỏi định hướng (CHKQ, CHBH, CHND) vào việc soạn giáo án Địa lí 11.
  • Cán bộ nghiên cứu phương pháp dạy học: Tham khảo hệ thống bảng số liệu khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh tại Quảng Nam năm 2018 làm dữ liệu đối sánh cho các công trình đổi mới phương pháp giảng dạy THPT.

Câu hỏi thường gặp

1. Tần suất giáo viên sử dụng phương pháp dự án trong dạy học Địa lí 11 tại các trường khảo sát đạt mức độ nào?
Theo kết quả điều tra 12 giáo viên Địa lí tại hai trường THPT tỉnh Quảng Nam, tỷ lệ sử dụng thường xuyên là 0%. Có 41,7% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng, 16,7% hiếm khi sử dụng và 41,6% giáo viên khẳng định chưa bao giờ sử dụng phương pháp này trên lớp.

2. Rào cản lớn nhất đối với giáo viên khi triển khai dạy học dự án trong môn Địa lí là gì?
Theo văn bản, 100% giáo viên được hỏi xác định quỹ thời gian eo hẹp của tiết học 45 phút là khó khăn lớn nhất. Các khó khăn tiếp theo gồm trình độ và điều kiện của học sinh (75,0%) và việc lập kế hoạch cho dự án (57,3%).

3. Đa số học sinh đánh giá như thế nào về hiệu quả của việc học theo dự án so với cách học thông thường?
Qua khảo sát 363 học sinh lớp 11, có 61,8% học sinh (225 em) đánh giá học theo dự án mang lại hiệu quả cao hơn cách học thông thường; 27,5% (100 em) cho rằng hiệu quả như nhau và chỉ 10,7% (39 em) nhận định không hiệu quả.

4. Khóa luận đề xuất quy trình thiết kế dự án học tập Địa lí 11 gồm mấy bước?
Khóa luận đề xuất quy trình gồm 8 bước cụ thể: (1) Lựa chọn và xác định nội dung trọng tâm; (2) Xác định loại dự án; (3) Xác định chủ đề dự án; (4) Xây dựng mục tiêu, xác định các vai và phiếu định hướng sản phẩm; (5) Viết tóm tắt bài dạy; (6) Xây dựng bộ câu hỏi định hướng; (7) Xây dựng kế hoạch đánh giá; (8) Xây dựng tư liệu hỗ trợ học sinh.

5. Bộ câu hỏi định hướng trong dạy học dự án được khóa luận phân thành các cấp độ nào?
Bộ câu hỏi định hướng gồm ba cấp độ: Câu hỏi khái quát (CHKQ - câu hỏi mở gợi ý các ý tưởng liên môn lớn), Câu hỏi bài học (CHBH - câu hỏi gắn với chủ đề bài dạy cụ thể) và Câu hỏi nội dung (CHND - các câu hỏi sự kiện, khái niệm trực tiếp nhằm củng cố kiến thức nền tảng).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Y Lan Ni Ya đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phương pháp dạy học dự án và phân tích sâu sắc thực trạng áp dụng phương pháp này trong môn Địa lí 11 tại các trường THPT tỉnh Quảng Nam năm 2018. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất 5 nguyên tắc sư phạm, quy trình thiết kế 8 bước và tiến trình tổ chức 3 giai đoạn giúp cụ thể hóa việc dạy học theo dự án vào chương trình Địa lí kinh tế - xã hội thế giới lớp 11. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định phương pháp góp phần nâng cao kết quả học tập, rèn luyện kỹ năng hợp tác và phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh THPT.