Luận Án Tiến Sĩ: Phương Pháp Dạy Từ Xưng Hô Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc H'Mông

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích giáo dục dạy học từ xưng hô tiếng việt cho học sinh tiểu học dân tộc hmông, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

263
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phương pháp dạy tiếng Việt

Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc H'Mông cần được thiết kế đặc biệt để phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của các em. Phương pháp dạy tiếng Việt không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức ngôn ngữ mà còn phải chú trọng đến việc phát triển kỹ năng giao tiếp tiếng Việt. Việc sử dụng từ xưng hô tiếng Việt là một phần quan trọng trong giao tiếp hàng ngày, giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách thức tương tác trong xã hội. Theo nghiên cứu, việc dạy từ xưng hô không chỉ giúp học sinh nâng cao khả năng giao tiếp mà còn góp phần vào việc hình thành nhân cách và thái độ của các em trong môi trường học tập. Đặc biệt, trong bối cảnh học sinh dân tộc H'Mông, việc sử dụng từ xưng hô đúng cách sẽ giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp với bạn bè và giáo viên.

1.1. Đặc điểm của học sinh tiểu học dân tộc H Mông

Học sinh tiểu học dân tộc H'Mông thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai. Đặc điểm tâm lý và nhận thức của các em có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu ngôn ngữ. Nghiên cứu cho thấy rằng, học sinh H'Mông thường sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày, dẫn đến việc thiếu hụt trong việc sử dụng từ xưng hô tiếng Việt. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp mà còn làm giảm sự tự tin của các em trong môi trường học tập. Do đó, việc áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp là rất cần thiết để giúp các em vượt qua những rào cản này.

II. Cơ sở lý luận của việc dạy từ xưng hô tiếng Việt

Cơ sở lý luận cho việc dạy từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc H'Mông bao gồm việc nghiên cứu các lý thuyết về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Theo đó, việc dạy từ xưng hô không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt kiến thức ngôn ngữ mà còn phải chú trọng đến việc phát triển kỹ năng giao tiếp. Các lý thuyết này nhấn mạnh rằng, việc học ngôn ngữ cần phải được thực hiện trong bối cảnh giao tiếp thực tế, nơi mà học sinh có thể áp dụng những gì đã học vào cuộc sống hàng ngày. Việc sử dụng từ xưng hô trong tiếng Việt không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa người nói và người nghe mà còn thể hiện thái độ và cảm xúc của người nói. Do đó, việc dạy từ xưng hô cần phải được thực hiện một cách có hệ thống và khoa học.

2.1. Từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng H Mông

Từ xưng hô trong tiếng Việt và tiếng H'Mông có những điểm tương đồng và khác biệt rõ rệt. Trong tiếng Việt, từ xưng hô rất phong phú và đa dạng, phản ánh các mối quan hệ xã hội phức tạp. Ngược lại, trong tiếng H'Mông, hệ thống từ xưng hô có phần đơn giản hơn nhưng lại mang đậm tính văn hóa và truyền thống. Việc so sánh và đối chiếu giữa hai hệ thống từ xưng hô này sẽ giúp giáo viên hiểu rõ hơn về những khó khăn mà học sinh H'Mông gặp phải khi học tiếng Việt. Điều này cũng giúp giáo viên xây dựng các phương pháp dạy học phù hợp, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và sử dụng từ xưng hô trong tiếng Việt.

III. Phương pháp dạy học từ xưng hô tiếng Việt

Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào việc dạy từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc H'Mông là rất cần thiết. Các phương pháp như phương pháp trực quan hành độngphương pháp đóng vai có thể giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và ghi nhớ cách sử dụng từ xưng hô trong các tình huống giao tiếp thực tế. Ngoài ra, việc xây dựng một hệ thống bài tập phong phú và đa dạng sẽ giúp học sinh có cơ hội thực hành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp của mình. Các bài tập này không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích các em tham gia vào các hoạt động giao tiếp một cách tự tin.

3.1. Xây dựng hệ thống bài tập dạy từ xưng hô

Hệ thống bài tập dạy từ xưng hô cần được thiết kế sao cho phù hợp với trình độ và nhu cầu của học sinh. Các bài tập có thể bao gồm các tình huống giao tiếp thực tế, giúp học sinh thực hành sử dụng từ xưng hô trong các ngữ cảnh khác nhau. Việc sử dụng các trò chơi ngôn ngữ và hoạt động nhóm cũng sẽ tạo ra không khí học tập vui vẻ, giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn với việc học tiếng Việt. Đồng thời, giáo viên cần thường xuyên đánh giá và điều chỉnh hệ thống bài tập để đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với sự phát triển của học sinh.

IV. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là một phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc H'Mông. Qua thực nghiệm, giáo viên có thể đánh giá được tính khả thi của các phương pháp đã đề xuất và điều chỉnh chúng cho phù hợp với thực tế giảng dạy. Việc thực hiện các bài kiểm tra và đánh giá định kỳ sẽ giúp giáo viên nắm bắt được tiến bộ của học sinh trong việc sử dụng từ xưng hô tiếng Việt. Đồng thời, thực nghiệm cũng giúp giáo viên thu thập được những phản hồi quý giá từ học sinh, từ đó cải thiện chất lượng dạy học.

4.1. Đánh giá kết quả thực nghiệm

Đánh giá kết quả thực nghiệm là bước quan trọng để xác định hiệu quả của các phương pháp dạy học đã áp dụng. Giáo viên cần sử dụng các tiêu chí đánh giá rõ ràng và cụ thể để đo lường sự tiến bộ của học sinh trong việc sử dụng từ xưng hô tiếng Việt. Các kết quả thu được từ thực nghiệm sẽ là cơ sở để giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp. Việc đánh giá cũng cần được thực hiện một cách thường xuyên để đảm bảo rằng học sinh luôn nhận được sự hỗ trợ cần thiết trong quá trình học tập.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. NGHIÊN CỨU VỀ TỪ XƯNG HÔ TIẾNG VIỆT Từ xưng hô là một phân lớp quan trọng trong mỗi ngôn ngữ, lớp từ này đã thu hút sự nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ học. Từ xưng hô tiếng Việt đã được một số nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm. Bài nghiên cứu “Chinese Influence on Vietnamese Pronouns and Terms of Address and Reference” của Mark Alves (2017) [99] đánh giá khía cạnh từ vựng và xã hội học của hệ thống từ xưng hô tiếng Việt bao gồm đại từ xưng hô, danh từ thân tộc, tên riêng, danh từ chỉ nghề nghiệp, chức danh) dưới tác động của tiếng Trung Quốc từ thời kì Bắc thuộc cho tới thời tiền hiện đại.

Khoảng thời gian được nghiên cứu một phần dựa trên các tài liệu lịch sử và một phần dựa trên các mô hình ngữ âm Hán - Việt tồn tại trong tiếng Việt. Trong nghiên cứu “Vietnamese Terms of Address and Person - References: Ideological Change and Stability”, Chew Grace (2015) [85] đã dựa trên quan điểm lịch sử thực tế trong việc mô tả và so sánh sự phát triển đáng kinh ngạc về mặt ngữ nghĩa và chức năng của từ xưng hô tiếng Việt. Về mặt lí thuyết, nó biểu thị sự thay đổi về chức năng và ý nghĩa của các diễn ngôn, sự thay đổi đó xuất hiện là bởi ảnh hưởng của ý thức hệ, nó có thể phát triển hoặc suy giảm do bối cảnh rộng của chính trị, xã hội. Ở Việt Nam, có thể nói, vấn đề từ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm.

Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt đã trải qua hơn 350 năm kể từ những trang viết của Alexandre de Rhodes. Ngay từ năm 1651, trong cuốn “Từ điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - Latinh”, Alexandre de Rhodes đã miêu tả các từ xưng hô tiếng Việt trong một vài trang. Các đại từ nhân xưng cũng như các danh từ thân tộc có chức năng xưng hô như: ông, bà, cậu, bác. đã được ông nhắc đến một cách sơ lược (Dẫn theo [24]).

Theo Nguyễn Phú Phong, “cho đến nay người đã cung cấp một bảng đại danh từ nhân xưng sớm nhất và đầy đủ nhất là Trương Vĩnh Ký trong cuốn “Grammare de la langue annamite”, 1884. Tác giả đã dành 30 trang để nói về đại từ nhân xưng (Dẫn theo [24, tr. Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam văn phạm” (1940) đã gọi lớp từ này là “đại danh từ”. 9 Emeneau trong công trình “Studies in Vietnamese Grammar” đã viết về đại từ xưng hô với 30 trang.

Ông cho rằng “Trong tiếng Việt rõ ràng là có các đại từ nhân xưng (đích thực) mà một bộ phận nghĩa của nó là nhằm chỉ rõ người nói và người nghe nhưng chúng cũng bị hạn chế rất nhiều trong khi xuất hiện về sự bày tỏ niềm kính trọng đối với người nghe. Những đại từ nhân xưng này chỉ giới hạn trong những hoàn cảnh không cần thiết phải có thái độ kính trọng, ví dụ khi người nói có một thái độ bề trên đối với người nghe hoặc trong những hoàn cảnh mà rất hiếm có là khi người nói và người nghe xem như hoàn toàn bình đẳng với nhau” [24, tr. Việc nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt có thể được chia thành hai giai đoạn gắn với các giai đoạn của lí thuyết ngôn ngữ: từ chủ nghĩa cấu trúc đến lí thuyết giao tiếp. Có khá nhiều công trình đã nghiên cứu về vấn đề xưng hô trong tiếng Việt.

Từ xưng hô được các nhà ngôn ngữ học miêu tả khi viết về từ loại tiếng Việt. Giai đoạn này, các nhà Việt ngữ học gọi các từ dùng để xưng hô là “đại từ nhân xưng”. Đó là ý kiến của các tác giả: Trần Trọng Kim, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Chiến, Lê Biên. Nguyễn Văn Chiến trong giai đoạn đầu nghiên cứu cho rằng các từ xưng hô lâm thời là từ loại đại từ: “Khác với hàng loạt ngôn ngữ Ấn Âu biến hình, hệ thống đại từ nhân xưng ngôn ngữ quốc gia Đông Nam Á thường là những hệ thống mở, không thuần nhất về chủng loại các yếu tố tạo thành.

Tính không thuần nhất này là hậu quả của một xu hướng ngôn ngữ chung, khá phổ biến trong khu vực: tiếp nhận những yếu tố phi đại từ, chủ yếu là những hệ thống từ loại lân cận, trên những “bậc”, những “trình độ tích hợp” khác nhau vào hệ thống đại từ” [18, tr. Trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” [8], khi phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt, ở các tiểu loại đại từ, tác giả Lê Biên cho rằng tiểu loại đại từ quan trọng nhất là “đại từ xưng hô”. Những đại từ xưng hô trong tiếng Việt có thể được chia thành hai lớp: - Ở tiếng Việt, các đại từ xưng hô gốc, đích thực rất ít: “tao, ta, mày, nó, hắn” và chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự (thân mật, thô tục, khinh thường). - Có nhiều yếu tố được đại từ hóa dùng để xưng hô như: + Những từ nguyên là danh từ đã trở thành đại từ thực sự: “tôi, tớ, mình hoặc còn dấu ấn danh từ khá rõ: chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta.” 10 + Những danh từ lâm thời đảm nhận chức danh đại từ, đó là những danh từ chỉ người thuộc quan hệ gia tộc, thân thuộc như: “cụ, ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cậu, cô dì, mợ, thím”.

+ Các danh từ: “bạn, đồng chí” + Các danh từ chỉ học hàm, học vị, tước hiệu: “giáo sư, tiến sĩ, đại tướng” + Các tên riêng của người + Các đại từ chỉ định: “ấy, đấy, đây” + Một số từ có nguồn gốc vay mượn từ gốc Hán, gốc Pháp Tác giả Lê Biên cũng chú ý: “Những đại từ xưng hô gốc, thiếu từ biểu thị sắc thái biểu cảm lịch sự, do đó, hầu hết danh từ chỉ người trong quan hệ gia tộc, thân thuộc đều có thể dùng làm từ xưng hô để thể hiện sắc thái này” [8, tr. Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cũng cho rằng đại từ nhân xưng là một nhóm trong đại từ: “Đại từ bao gồm nhiều nhóm, cụ thể là đại từ nhân xưng, đại từ thay thế, đại từ chỉ định, đại từ chỉ lượng. Trong đó đại từ nhân xưng có tính chất của từ thực nhiều hơn. Giai đoạn nghiên cứu thứ hai gắn liền với thuật ngữ “từ xưng hô”.

Từ xưng hô trong tiếng Việt được nghiên cứu từ lí thuyết giao tiếp, xưng hô gắn với văn hóa giao tiếp của cộng đồng. Khái niệm từ xưng hô có ngoại diên rộng hơn đại từ nhân xưng. Vì ngoài đại từ nhân xưng thực thụ, từ xưng hô còn tiếp thu rất nhiều từ thuộc các từ lọai khác vào hệ thống để đảm nhiệm chức năng xưng hô. Từ xưng hô được nghiên cứu gắn với cách ứng xử và đặt trong chiều sâu văn hóa của mỗi dân tộc, vùng miền.

Người có công sức nghiên cứu sâu ở mảng từ xưng hô, trước hết phải kể đến Nguyễn Văn Chiến. Ông đã viết nhiều cuốn sách và bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí về từ xưng hô bằng phương pháp tiếp cận hệ thống. Ở bài viết “Bình diện xã hội của ngữ dụng học tương phản các từ xưng hô và các thành ngữ” [19], nhóm tác giả Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Xuân Hòa đã khẳng định “Tên gọi từ xưng hô cho thấy: chính bản thân thuật ngữ này không có “chỗ đứng” trong kí hiệu học cú học và nghĩa học. Đây không phải là những đơn vị thuần túy của hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ.

Bằng chứng là sự tồn tại những ngôn ngữ, trong đó lớp từ xưng hô chứa đựng một tập hợp 11 các từ loại khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Từ xưng hô chỉ có thể được định nghĩa trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan hệ trực tiếp giữa những người giải thuyết kí hiệu và bản thân kí hiệu ngôn ngữ” [19, tr. Trong bài “Lớp từ xưng hô tiếng Việt trong lí thuyết và thực tế đối dịch với các ngôn ngữ khác” [22], Nguyễn Văn Chiến đã cho rằng nếu coi tiếng Việt là ngôn ngữ phiên dịch để chuyển dịch các ngôn ngữ khác qua nó thì lớp từ xưng hô của tiếng Việt là một hiện tượng đầy thú vị nhưng cũng gây ra rất nhiều chuyện rắc rối. Trong cuốn “Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á” [18], Nguyễn Văn Chiến đã phân tích đại từ nhân xưng tiếng Việt trong sự đối chiếu với đại từ nhân xưng của những ngôn ngữ khác, gần và cùng loại hình.

Tác giả đã đối chiếu hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt trong sự phân tích tương phản với hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Khơme và tiếng Lào. Trong bài viết “Danh từ thân tộc Việt trong hai loại hình ngôn ngữ đối chiếu: Khơme, Lào và Nga, Tiệp, Anh” [23], Nguyễn Văn Chiến định nghĩa danh từ thân tộc là những từ biểu thị khái niệm và quan hệ thân tộc gia đình. Tác giả đã đối chiếu danh từ thân tộc Việt trên các mặt nội dung, hình thức, số lượng, phẩm chất với những ngôn ngữ khác loại hình (tiếng Nga Tiệp - ngôn ngữ Slavơ biến hình, tổng hợp tính; tiếng Anh - ngôn ngữ Ấn Âu biến hình, phân tích tính), với những ngôn ngữ cùng loại hình (tiếng Khơme, Lào - ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính). Trong hướng nghiên cứu này, phải kể đến cuốn “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” của Nguyễn Văn Chiến [24].

Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu tiếp cận vốn từ vựng Việt ngữ một cách có hệ thống dưới ánh sáng của ngôn ngữ - văn hóa học. Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Ở chương 3, tác giả đã phân tích các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và các từ xưng hô trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Chiến, trong các từ biểu thị cơ cấu và tổ chức xã hội người Việt, lớp từ có vị trí xứng đáng nhất, xét ở góc diện ngôn ngữ - văn hóa học phải là các từ chỉ quan hệ thân tộc và các từ xưng hô.

Đây là hai nhóm từ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tiêu biểu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Số lượng các đại từ nhân xưng gốc, thực thụ rất ít, chỉ phân bố ở những sắc thái xưng hô biểu cảm không lịch sự nếu nhìn ở mặt cắt đồng đại. Vì thế, khi thể hiện thái độ xưng hô lịch sự, tiếng Việt phải mượn các đơn vị từ vựng thuộc nhiều lớp từ loại 12 khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phương Pháp Dạy Từ Xưng Hô Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Dân Tộc H'Mông là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc hướng dẫn giáo viên cách dạy từ xưng hô tiếng Việt cho học sinh tiểu học người H'Mông. Tài liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu và sử dụng đúng từ xưng hô trong giao tiếp, đồng thời cung cấp các phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số. Nhờ đó, giáo viên có thể giúp học sinh nâng cao kỹ năng ngôn ngữ, tự tin hơn trong giao tiếp và hòa nhập tốt hơn vào môi trường học tập đa văn hóa.

Để mở rộng kiến thức về phương pháp giáo dục tiểu học, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học đọc cho học sinh lớp 1 trong giai đoạn học vần, tài liệu này cung cấp các giải pháp cụ thể để cải thiện kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học tích hợp dạy viết trong việc dạy học các kỹ năng ngôn ngữ khác cho học sinh lớp 4 cũng là một nguồn tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về cách tích hợp các kỹ năng ngôn ngữ trong giảng dạy. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục học dạy học đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh lớp 3 theo hướng phát triển năng lực sẽ giúp bạn khám phá các phương pháp phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học.