MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƢ PHẠM GÓP PHẦNBỒI DƢỠNG CHO HỌC SINH NĂNG LỰC MÔ HÌNH HÓA TOÁN HỌCTHÔNG QUA NỘI DUNG ĐẠI SỐ TỔ HỢP CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu về năng lực mô hình hóa toán học 1. Nguồn gốc của năng lực Khái niệm NL (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh "competentia”. Ngày nay, khái niệm NL đƣợc hiểu nhiều nghĩa khác nhau.
NL đƣợc hiểu nhƣ sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. NL cũng đƣợc hiểu là khả năng, công suất của một doanh nghiệp, thẩm quyền pháp lý của một cơ quan. Khái niệm NL đƣợc dùng ở đây là đối tƣợng của tâm lý, giáo dục học. Có nhiều định nghĩa khác nhau về NL.
Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2000) cho rằng: “NL là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [14]. Rubinstein coi NL là điều kiện cho hoạt động có ích của con ngƣời: "NL là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con ngƣời thích hợp với một hoạt động có ích lợi xã hội nhất định” [34]. Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cƣờng thì: “NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động” [10]. Còn so với kĩ năng, NL lại có phạm vi nghĩa rộng hơn.
Về điều này, ta có thể tham khảo D.H Salganik: “NL không chỉ là kiến thức 6 và kĩ năng, nó nhiều hơn thế. NL bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kĩ năng và thái độ) trong một hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, khả năng giao tiếp hiệu quả là một NL dựa trên kiến thức của mỗi cá nhân về ngôn ngữ, kĩ năng thực hành và thái độ hƣớng tới những ngƣời mà ta đang giao tiếp”[40]. Trong đề tài này, Chƣơng trình giáo dục phổ thông mới quan niệm về NL nhƣ sau: “NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,… NL của cá nhân đƣợc đánh giá qua phƣơng thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [6].
Nghiên cứu về năng lực đến giai đoạn hiện nay có thể đề cập đến một hƣớng tiếp cận nhƣ sau: - Một là, NL có nguồn gốc từ di truyền, bẩm sinh, đó là điều kiện cần thiết ban đầu cho sự phát triển NL. Tuy nhiên, đây chỉ là điều kiện về mặt sinh học đó là có cơ thể khỏe mạnh, có thể chất. Để có NL cần nhiều điều kiện khác nhƣ tƣ duy, trí nhớ, tƣởng tƣợng, kiến thức. - Hai là, tính xã hội, lịch sử là nguồn gốc của NL.
Có thể thấy, NL là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Khi sinh ra, con ngƣời chƣa có NL nhất định trong quá trình trƣởng thành NL đƣợc hình thành qua học tập, lao động, kinh nghiệm sống [20]. - Ba là, NL có nguồn gốc từ hoạt động và là sản phẩm của hoạt động. NL là sản phẩm của hoạt động.
Cấu thành NL đƣợc hiểu từ kiến thức, kĩ năng, thái độ. Ba yếu tố trên hợp thành trong quá trình tạo ra sản phẩm. Đối với NL tốt có sản phẩm tốt, và ngƣợc lại. NL thể hiện những đặc tính cá nhân liên quan đến công việc đạt hiệu quả cao.
Trong khi đó, McClelland (1973), mô tả “NL nhƣ là một đặc tính cơ bản để thực hiện công việc”. NL là một số kiến thức, kỹ năng, khả năng, tính cách, động cơ liên quan đến công việc, sự 7 thể hiện trong công việc và một số những kết quả quan trọng khác trong cuộc sống. Đây chính cơ sở nền tảng để cấu thành và phát triển NL [20]. Nhƣ vậy, các hƣớng nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau.
Trong đó, cơ sở đầu tiên của NL về mặt di truyền và mang tính lịch sử, xã hội và thông qua hoạt động xã hội. Ba yếu tố đó cấu thành và phát triển NL mang tính cá thể con ngƣời. Khái niệm về năng lực, năng lực toán học 1. Khái niệm về năng lực - Theo Nguyễn Anh Tuấn (2002): “.
NL tự nhiên là loại NL đƣợc nảy sinh trên cơ sở những tƣ chất bẩm sinh di truyền, không cần đến tác động của giáo dục. Nó cho phép con ngƣời giải quyết đƣợc những yêu cầu tối thiểu, quen thuộc đặt ra cho mình trong cuộc sống” [50]. Theo tác giả quan trọng hóa NL mang nguồn gốc tự nhiên, mà đánh giá thấp vai trò của giáo dục, hoạt động của chủ thể. Các nhà nghiên cứu Xô viết với quan điểm, NL là những thuộc tính tâm lí cá nhân trong hoạt động, đã có nhiều công trình nghiên cứu về NL trí tuệ, tiêu biểu là A.
Chieplôv, coi NL là những đặc điểm tâm lí cá nhân có liên quan với kết quả tốt đ p của việc hoàn thành một hoạt động nào đó. Ông đã đề cập hai khía cạnh cơ bản liên quan đến khái niệm NL. “Thứ nhất, NL là những đặc điểm tâm lí mang tính cá nhân. Mỗi cá thể khác nhau có NL khác nhau về cùng một lĩnh vực.
Không thể nói rằng: Mọi ngƣời đều có NL nhƣ nhau. Thứ hai, khi nói đến NL, không chỉ nói tới các đặc điểm tâm lí chung mà NL còn phải gắn với một hoạt động nào đó và đƣợc hoàn thành có kết quả tốt (tính hƣớng đích)” [52]. Chú trọng đến tính có ích của hoạt động, X. Rubinstein coi NL là điều kiện cho hoạt động có ích của con ngƣời: “NL là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con ngƣời thích hợp với một hoạt động có ích lợi xã hội nhất định” [39].
Có thể tựu chung các quan điểm này tƣơng tự quan điểm triết 8 học C. Mác: Không tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đối với NL mà nhấn mạnh đến yếu tố hoạt động và học tập trong việc hình thành NL. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu, các nhà nghiên cứu có cách hiểu khái niệm “năng lực” khác nhau. Gardner [26], đã đề cập đến khái niệm “NL qua việc phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con ngƣời, đó là: Ngôn ngữ, lôgic - toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hƣớng tới thiên nhiên.
Để giải quyết một vấn đề (problem) “có thực” trong cuộc sống thì con ngƣời không thể huy động duy nhất một mặt trí năng nào đó mà kết hợp các mặt trí năng liên quan với nhau. Sự kết hợp đó tạo thành NL cá nhân. Theo nhà tâm lí học Nga V.Krutetxki thì: “NL đƣợc hiểu nhƣ là: Một phức hợp các đặc điểm tâm lí cá nhân của con ngƣời đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nào đó và là điều kiện để thực hiện thành công hoạt động đó” [54]. Phần lớn định nghĩa về NL của các tài liệu nƣớc ngoài quy NL vào phạm trù khả năng (ability, capacity, possibility).
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm NL là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [50]. - Chƣơng trình Giáo dục Trung học (GDTH) bang Québec, Canada năm 2004 xem NL “là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực” [50]. - Denyse Tremblay cho rằng NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.Weinert, NL là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học đƣợc cũng nhƣ sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn 9 đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [44]. Đặng Thành Hƣng cho rằng “NL chính là một tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con ngƣời (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy” [20].
Phan Anh Tài, cho rằng: “Thật ra NL nào đó của một con ngƣời thƣờng là tổng hòa của kiến thức, kĩ năng, tình cảm - thái độ đƣợc thể hiện trong một hành động và tình huống cụ thể” [44]. Với cách tiếp cận tích hợp các tác giả Nguyễn Thị Hƣơng Trang, lại cho rằng: “NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [51]. Tài liệu hội thảo chƣơng trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể trong chƣơng trình GDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT) xếp NL vào phạm trù hoạt động khi giải thích: “NL là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định” [44].
Điều đó cho thấy, NL đƣợc hình thành và phát triển qua hoạt động. Muốn có kiến thức, hình thành kỹ năng và có động cơ thái độ thì con ngƣời cần tham gia lao động, học tập, sản xuất từ đó tích lũy kiến thức, rèn luyện kĩ năng và cải thiện, nâng cao NL. Một số tài liệu khác gọi NL là đặc điểm, phẩm chất hoặc thuộc tính cá nhân. Ví dụ: - Cách hiểu của Từ điển giáo dục: “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó” [19].
10 Cách hiểu của Từ điển tiếng Việt: NL là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” [55]. - Cách hiểu của Đặng Thành Hƣng: “NL là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [20].