Luận án tiến sĩ giáo dục học dạy học học phần phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên trường đại học sư phạm theo quan điểm tích hợp

Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu phương pháp dạy học tích hợp môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên đại học sư phạm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

286
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp là một phương pháp giáo dục hiện đại, nhằm kết hợp nhiều môn học khác nhau để tạo ra một trải nghiệm học tập phong phú cho sinh viên. Phương pháp này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết trong thực tiễn. Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Việc áp dụng dạy học tích hợp trong môn nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên sư phạm sẽ giúp họ phát triển năng lực nghề nghiệp, đồng thời khắc phục những hạn chế trong phương pháp giảng dạy truyền thống.

1.1. Đặc điểm của dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp có những đặc điểm nổi bật như: kết nối kiến thức giữa các môn học, khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện của sinh viên. Phương pháp này giúp sinh viên không chỉ học lý thuyết mà còn áp dụng vào thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng giải quyết vấn đề. Việc tích hợp các nội dung học phần như Triết học, Tâm lý học, và các phương pháp nghiên cứu sẽ tạo ra một môi trường học tập đa dạng và phong phú. Điều này cũng phù hợp với yêu cầu của giáo dục đại học hiện đại, nơi mà sinh viên cần có khả năng làm việc độc lập và sáng tạo trong lĩnh vực của mình.

II. Phương pháp giảng dạy trong dạy học tích hợp

Phương pháp giảng dạy trong dạy học tích hợp cần được thiết kế một cách linh hoạt và sáng tạo. Các giảng viên cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như thảo luận nhóm, dự án thực tế, và các hoạt động trải nghiệm để sinh viên có thể tiếp cận kiến thức một cách toàn diện. Việc sử dụng kỹ năng sư phạm trong giảng dạy là rất quan trọng, giúp sinh viên không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết cho nghề nghiệp tương lai. Đặc biệt, việc áp dụng các công nghệ thông tin trong giảng dạy sẽ tạo ra một môi trường học tập hiện đại và hấp dẫn hơn cho sinh viên.

2.1. Kỹ thuật dạy học tích hợp

Các kỹ thuật dạy học tích hợp bao gồm việc sử dụng các công cụ trực tuyến, phần mềm hỗ trợ học tập, và các phương pháp đánh giá đa dạng. Việc áp dụng các kỹ thuật này không chỉ giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận kiến thức mà còn tạo ra sự hứng thú trong học tập. Các giảng viên cần chú trọng đến việc thiết kế các hoạt động học tập có tính tương tác cao, khuyến khích sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học. Điều này sẽ giúp sinh viên phát triển khả năng tự học và tự nghiên cứu, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục.

III. Đánh giá và kiểm tra trong dạy học tích hợp

Đánh giá và kiểm tra trong dạy học tích hợp cần được thực hiện một cách toàn diện và công bằng. Việc sử dụng các hình thức đánh giá đa dạng như đánh giá quá trình, đánh giá sản phẩm, và đánh giá đồng đẳng sẽ giúp sinh viên nhận được phản hồi kịp thời về kết quả học tập của mình. Điều này không chỉ giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về năng lực của bản thân mà còn tạo động lực để họ cải thiện và phát triển hơn nữa. Các giảng viên cần thiết lập các tiêu chí đánh giá rõ ràng và minh bạch, đảm bảo rằng mọi sinh viên đều có cơ hội thể hiện khả năng của mình trong môi trường học tập tích cực.

3.1. Quy trình đánh giá trong dạy học tích hợp

Quy trình đánh giá trong dạy học tích hợp bao gồm việc xác định mục tiêu học tập, thiết kế các công cụ đánh giá phù hợp, và thực hiện đánh giá một cách liên tục. Việc này không chỉ giúp giảng viên theo dõi tiến độ học tập của sinh viên mà còn giúp sinh viên tự đánh giá khả năng của mình. Đặc biệt, việc áp dụng các công nghệ thông tin trong quy trình đánh giá sẽ tạo ra sự minh bạch và công bằng hơn trong việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Điều này cũng phù hợp với xu hướng hiện đại trong giáo dục, nơi mà việc đánh giá không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra kiến thức mà còn đánh giá khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp Trong lĩnh vực giáo dục, tích hợp có lịch sử phát triển lâu dài cách đây hàng trăm năm.

Ban đầu, khái niệm này xuất hiện ở thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Sang đầu thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu lí luận như Kilpatrick (1918), Dewey (1938) đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của tích hợp và kiến thức liên môn [80]. Vào giữa thập niên 1980 - đầu thập niên 1990, tích hợp được hiểu như một khái niệm khoa học đầy đủ trong giáo dục, với bối cảnh phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa… của thế giới. Trong giai đoạn này, khái niệm tích hợp đã được xác định một cách đầy đủ và vững chắc trong các công trình triết học và khoa học khác.

Đồng thời, lí thuyết tích hợp cũng được ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và trở thành một quan điểm, trào lưu tư tưởng về lí luận dạy học phổ biến trên thế giới. Trong thực tế nó có thể có nhiều hình thức. Do đó, trong các thảo luận về tích hợp chương trình, đầu tiên phải xác định bối cảnh bởi tích hợp có thể là tích hợp trong các ngành khoa học chứ không phải tích hợp giữa rất nhiều ngành khoa học để người học trải nghiệm nhiều mối liên kết giữa các ngành. Dựa trên quan điểm gắn học với hành, Xavier Roegiers (1996) cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở người học các năng lực hành động, xem năng lực là khái niệm cơ sở của sư phạm tích hợp.

Ông cho rằng: “Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa. Barab và Landa (1997) chỉ ra, khi người học tập trung vào việc giải quyết các vấn đề hữu ích thì động lực và việc học tập sẽ gia tăng [70]. Theo Marshall và cộng sự (2004), chương trình tích hợp chú trọng nhu cầu tiếp thu kiến thức phù hợp với nhu cầu của người học, người học sẽ 11 được học thứ mình cần và yêu thích, hay còn gọi là “động cơ nội tại”, và chính nhờ có động cơ học tập mà việc học trở nên nhẹ nhàng, thú vị hơn [82].

Wraga (2009) nhấn mạnh DHTH làm cho việc học có nhiều ý nghĩa hơn khi xét theo góc độ liên kết người học với nhau, người học với người dạy, liên kết các môn học, độ phức tạp và giải quyết vấn đề. Xét ở góc độ của người học, người học cảm thấy hứng thú hơn vì được thể hiện năng lực của chính mình [95]. Bàn về tích hợp chương trình giáo dục, trong hơn một thế kỉ qua, đây là đề tài đã được nhiều nhà lí thuyết thảo luận và đưa ra nhiều cách thức, mô hình tích hợp khác nhau, bởi muốn dạy học tích hợp thì phải xây dựng các cách thức để tích hợp môn học. Về cơ bản, các cách thức, mô hình này được xác lập tương tự nhau mặc dù tên gọi của chúng thường khác nhau.

Tích hợp dường như là vấn đề của phương pháp và mức độ. D’ Hainaut (1977) đưa ra bốn quan điểm khác nhau đối với các môn học, đó là: (i) Quan điểm đơn môn (nội bộ môn học): có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt, các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ; (ii) Quan điểm đa môn: một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan với những kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau, các môn học tiếp tục được tiếp cận riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung; (iii) Quan điểm liên môn: nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của những môn học khác nhau; (iv) Quan điểm xuyên môn: nội dung học tập hướng vào phát triển những kĩ năng, năng lực cơ bản mà người học có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết những tình huống khác nhau. Theo tác giả, nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểm liên môn và quan điểm xuyên môn [97]. Các cách thức đó là: Các ứng dụng chung cho nhiều môn học, được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học; các ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học; phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp; phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích hợp, xoay quanh các mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp.

Loepp (1999), trong thập niên 1980, một số mô hình tích hợp chương trình đã thu hút sự chú ý, như: mô hình liên ngành, mô hình dựa trên chuỗi vấn đề và mô hình dựa trên các chủ đề. Các tài liệu nghiên cứu cho thấy tích hợp chương trình được thực hiện ở các cấp thấp nhiều hơn rất nhiều so với ở cấp độ cao (trung học, 12 đại học). Một xu hướng đang nổi lên là các trường tiểu học xây dựng các chương trình liên ngành xoay quanh các chủ đề, trong khi ở trường trung học và cao đẳng, chương trình tích hợp dựa vào vấn đề [76]. Trên cơ sở những định nghĩa đã được các nhà giáo dục đề ra qua nhiều thập kỉ qua, Drake và Burns (2004) đã đề xuất các định hướng tích hợp chương trình, đồng thời cung cấp điểm khởi đầu cho việc hiểu các cách tiếp cận tích hợp khác nhau, cụ thể: (i) Tích hợp đa môn: cách tiếp cận này tập trung trước hết vào các môn học, được thực hiện theo cách tổ chức các chuẩn từ các môn học xoay quanh một chủ đề, đề tài hay dự án, tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp những kiến thức của các môn học có liên quan.

Có nhiều phương pháp khác nhau để tạo nên một chương trình tích hợp đa môn, như tích hợp trong nội bộ môn học, tích hợp kiểu lồng ghép, học tập dịch vụ, các góc học tập/các môn học song hành, các bài học dựa vào chủ đề… (ii) Tích hợp liên môn: Theo cách tiếp cận này, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung như các chủ đề, các khái niệm, các khái niệm và kĩ năng liên ngành/môn. Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với một hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp. (iii) Tích hợp xuyên môn: Theo cách tiếp cận này, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề và mối quan tâm của người học, HS phát triển các kĩ năng sống khi họ áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào ngữ cảnh thực tế của cuộc sống. Hai con đường dẫn đến tích hợp xuyên môn là học tập theo dự án và thương lượng chương trình học [74].

Khi so sánh đối chiếu giữa DHTH và dạy học theo kiểu truyền thống (dạy một môn học đơn thuần), Zhbanova và các cộng sự (2010) đã chỉ ra các ưu thế nổi bật của chương trình DHTH, đó là: Hoạt động trong giờ học chủ yếu làm việc theo nhóm; có nhiều phương pháp cải tiến giảng dạy thông qua phương tiện kĩ thuật; có nhiều phản hồi tích cực từ người dạy; câu hỏi đặt ra dựa theo sự lựa chọn của người học; giáo viên hoạt động theo nhóm, liên môn và cải thiện các hoạt động của người học; người học được lựa chọn, quyết định và học tập như một thành viên trong nhóm [96]. Tuy nhiên, chương trình DHTH luôn có độ phức tạp cao hơn so với chương trình dạy học truyền thống. Do đó, trong DHTH, vai trò của giáo viên trở nên năng động và quan trọng hơn. Loepp (1999) nhấn mạnh vai trò của giáo viên trong một chương trình tích hợp với các đề xuất như: Giáo viên cần thay đổi hệ thống quan niệm, chuyển từ niềm tin vào phương pháp sư phạm đơn thuần sang niềm tin vào chủ nghĩa kiến tạo; phải bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ; giáo viên phải trở thành thành viên của cộng đồng học tập; giáo viên phải có kĩ năng trong việc hỗ trợ nhóm nhỏ học tập; giáo viên cần phải quản lí bài giảng theo kinh nghiệm – định hướng; giáo viên cần học cách sử dụng chiến lược đánh giá xác thực; các nhà quản trị và hội đồng nhà trường phải định hướng để các nguồn lực cần thiết và hỗ trợ liên tục có thể được cung cấp cho giáo viên; chiến lược thông tin công cộng phải được thực hiện để thông báo cho 13 cộng đồng và phụ huynh rằng một mô hình giáo dục mới đang được sử dụng; và cuối cùng, thay đổi một chương trình tích hợp đòi hỏi phải cải cách cả hệ thống, điều này bao gồm cách thức giáo viên được chuẩn bị, được chứng nhận và đánh giá.

Còn các tác giả Virtue, Wilson và Ingram (2009) đề xuất các phương pháp tiếp cận giúp người dạy thích nghi với DHTH, như: Nếu người dạy chưa quen với DHTH, người dạy cần bắt đầu với những bài giảng ngắn, liên kết vài vấn đề đơn giản từ các môn học. Dựa trên đánh giá của người học, người dạy tiếp tục phát triển và hoàn thiện hơn chương trình DHTH của mình với độ phức tạp cao hơn. Một ưu điểm của DHTH chính là để đáp ứng động cơ nội tại của người học, người dạy cần có những phản hồi tích cực với người học, giúp người học có thêm nhiều trạng thái tích cực trong học tập [93]. Ở Việt Nam, đổi mới căn bản toàn diện đang là một thách thức lớn đối với ngành giáo dục, trong đó có đổi mới phương pháp giảng dạy.

Với định hướng tiếp cận phát triển năng lực, DHTH đã và đang được xem là một trong những phương pháp giáo dục tiên tiến, được nghiên cứu và vận dụng ở các bậc học khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phương pháp dạy học tích hợp môn nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên sư phạm" trình bày những phương pháp dạy học tích hợp hiệu quả, giúp sinh viên sư phạm phát triển kỹ năng nghiên cứu và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp lý thuyết và thực hành trong quá trình giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng tư duy phản biện của sinh viên. Bài viết không chỉ cung cấp những kiến thức bổ ích mà còn gợi ý các phương pháp dạy học sáng tạo, giúp sinh viên tự tin hơn trong nghề nghiệp tương lai.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học sinh, hãy tham khảo bài viết Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh cũng sẽ cung cấp cho bạn những phương pháp giảng dạy tiếng Anh hiệu quả. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh THCS để mở rộng thêm kiến thức về phát triển tư duy cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giáo dục hiện đại.