Luận án tiến sĩ dạy học phần cơ sở kỹ thuật theo hướng quy nạp trong đào tạo ngành cơ khí trình độ cao đẳng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp dạy học phần cơ sở kỹ thuật theo hướng quy nạp trong đào tạo ngành cơ khí trình độ cao đẳng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Đóng góp của luận án

0.8. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC KỸ THUẬT HƯỚNG QUY NẠP VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHẦN CƠ SỞ KỸ THUẬT THEO HƯỚNG QUY NẠP TRONG ĐÀO TẠO NGÀNH CƠ KHÍ TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới về dạy học và dạy học theo hướng quy nạp

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học và dạy học theo hướng quy nạp

1.1.3. Những nhận xét rút ra từ tổng quan nghiên cứu vấn đề và nhận định cho nghiên cứu của luận án

1.2. Cơ sở lý luận của dạy học phần Cơ sở kỹ thuật theo hướng quy nạp

1.2.1. Một số khái niệm

1.2.2. Lý luận về dạy học kỹ thuật hiện đại

1.2.3. Lý luận về dạy học kỹ thuật theo hướng quy nạp

1.2.4. Quy trình dạy học phần Cơ sở kỹ thuật theo hướng quy nạp

1.2.5. Đặc điểm của các học phần cơ sở kỹ thuật

1.3. Dạy học phần Cơ sở kỹ thuật theo hướng quy nạp trong đào tạo ngành cơ khí trình độ cao đẳng

1.3.1. Phương pháp và quy trình dạy học theo hướng quy nạp

1.3.2. Phương tiện dạy học theo hướng quy nạp

1.4. Thực trạng dạy học phần Cơ sở kỹ thuật theo hướng quy nạp trong đào tạo ngành cơ khí trình độ cao đẳng

1.4.1. Mục đích khảo sát

1.4.2. Thiết kế phương pháp khảo sát

1.4.3. Đối tượng và địa bàn khảo sát

1.4.4. Nội dung, công cụ và quy mô khảo sát

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CÁC BÀI GIẢNG DẠY HỌC PHẦN CƠ SỞ KỸ THUẬT THEO HƯỚNG QUY NẠP TRONG ĐÀO TẠO NGÀNH CƠ KHÍ TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG

2.1. Phân tích trường hợp chương trình đào tạo ngành/nghề cơ khí trình độ Cao đẳng

2.2. Định hướng lựa chọn nội dung soạn các bài giảng trong học phần Cơ sở kỹ thuật dạy học theo hướng quy nạp trong đào tạo

2.3. Quy trình soạn các bài giảng trong các học phần cơ sở kỹ thuật ngành cơ khí theo hướng quy nạp

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ

3.1. Mục đích, nội dung, đối tượng kiểm nghiệm và đánh giá

3.1.1. Mục đích kiểm nghiệm và đánh giá

3.1.2. Nội dung kiểm nghiệm và đánh giá

3.1.3. Đối tượng kiểm nghiệm

3.2. Phương pháp kiểm nghiệm và đánh giá

3.2.1. Phương pháp chuyên gia

3.2.2. Cách thực hiện

3.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.2.4. Nội dung thực nghiệm

3.2.5. Thành phần và đối tượng

3.2.6. Cách thực hiện

3.3. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của dạy học kỹ thuật hướng quy nạp

Chương này tập trung vào việc phân tích cơ sở lý luận của dạy học kỹ thuật hướng quy nạp, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo cơ khí trình độ cao đẳng. Các khái niệm cơ bản về dạy học quy nạp được làm rõ, bao gồm lý thuyết hiện đại và quy trình áp dụng. Dạy học quy nạp được xem là phương pháp giúp sinh viên phát triển tư duy logic và sáng tạo thông qua việc đi từ các ví dụ cụ thể đến khái quát hóa. Chương cũng đề cập đến thực trạng dạy học các học phần cơ sở kỹ thuật tại các trường cao đẳng, nơi phương pháp truyền thống vẫn chiếm ưu thế, dẫn đến hiệu quả học tập chưa cao.

1.1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học quy nạp

Phần này trình bày các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về dạy học quy nạp. Các nghiên cứu quốc tế như của Comenxki và Rousseau đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển tư duy độc lập và sáng tạo trong giáo dục. Tại Việt Nam, dạy học quy nạp đang được áp dụng thử nghiệm trong một số lĩnh vực kỹ thuật, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế do thiếu cơ sở lý luận và phương tiện hỗ trợ.

1.2. Cơ sở lý luận của dạy học kỹ thuật hướng quy nạp

Phần này phân tích cơ sở lý luận của dạy học kỹ thuật hướng quy nạp, bao gồm các khái niệm cơ bản, lý thuyết hiện đại, và quy trình áp dụng. Dạy học quy nạp được xem là phương pháp giúp sinh viên phát triển tư duy logic và sáng tạo thông qua việc đi từ các ví dụ cụ thể đến khái quát hóa.

II. Thiết kế bài giảng dạy học quy nạp trong đào tạo cơ khí

Chương này tập trung vào việc thiết kế bài giảng theo hướng dạy học quy nạp trong đào tạo cơ khí trình độ cao đẳng. Các bước thiết kế bao gồm phân tích chương trình đào tạo, lựa chọn nội dung phù hợp, và xây dựng quy trình giảng dạy. Dạy học quy nạp được áp dụng thông qua việc sử dụng các công cụ hỗ trợ như phần mềm mô phỏng và thiết bị thực hành hiện đại. Chương cũng đề xuất các bài giảng mẫu để minh họa cho phương pháp này.

2.1. Phân tích chương trình đào tạo

Phần này phân tích chương trình đào tạo ngành cơ khí trình độ cao đẳng, từ đó xác định các nội dung phù hợp để áp dụng dạy học quy nạp. Các học phần cơ sở kỹ thuật được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của phương pháp.

2.2. Quy trình thiết kế bài giảng

Phần này trình bày quy trình thiết kế bài giảng theo hướng dạy học quy nạp, bao gồm các bước từ lựa chọn nội dung, xây dựng kế hoạch giảng dạy, đến triển khai thực tế. Các công cụ hỗ trợ như phần mềm mô phỏng và thiết bị thực hành được sử dụng để tăng tính trực quan và hiệu quả.

III. Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả dạy học quy nạp

Chương này trình bày quá trình kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả của dạy học quy nạp trong đào tạo cơ khí trình độ cao đẳng. Các phương pháp kiểm nghiệm bao gồm thực nghiệm sư phạm, phỏng vấn chuyên gia, và phân tích kết quả học tập của sinh viên. Kết quả cho thấy dạy học quy nạp giúp cải thiện đáng kể khả năng tư duy và sáng tạo của sinh viên, đồng thời tăng cường sự hứng thú trong học tập.

3.1. Phương pháp kiểm nghiệm

Phần này mô tả các phương pháp kiểm nghiệm được sử dụng để đánh giá hiệu quả của dạy học quy nạp, bao gồm thực nghiệm sư phạm, phỏng vấn chuyên gia, và phân tích kết quả học tập của sinh viên.

3.2. Kết quả và đánh giá

Phần này trình bày kết quả kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả của dạy học quy nạp. Các số liệu và phân tích cho thấy phương pháp này giúp cải thiện đáng kể khả năng tư duy và sáng tạo của sinh viên, đồng thời tăng cường sự hứng thú trong học tập.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC KỸ THUẬT HƯỚNG QUY NẠP VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHẦN CƠ SỞ KỸ THUẬT THEO HƯỚNG QUY NẠP TRONG ĐÀO TẠO NGÀNH CƠ KHÍ TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về dạy học và dạy học theo hướng quy nạp: Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển giáo dục, trải qua nhiều thời kỳ có rất nhiều phát biểu, nghiên cứu của các nhà triết học, nhà khoa học, nhà giáo dục đã phản ánh tầm quan trọng của dạy học và dạy học theo hướng quy nạp. Các nghiên cứu về dạy học.Comenxki (1592-1670) là nhà giáo Tiệp Khắc yêu nước, nhà sư phạm lỗi lạc của thế giới, được người đời thừa nhận là ông tổ của nền giáo dục cận đại. Cuốn Lý luận dạy học vĩ đại (1632) của ông đã đi vào lịch sử như một mốc đánh dấu sự ra đời của lý luận giáo dục nhà trường hiện đại.

Trong tác phẩm đó, ông đã khẳng định vai trò quan trọng của người dạy, môi trường mà đặc biệt là người học, chỉ đề cập đến tương tác 3 đối tượng chưa khai thác thiết bị hiện đại. Jean - Jacques Rousseau (1712-1778) là một triết gia nổi tiếng của dòng Triết học, một nhà văn nổi tiếng, một nhà giáo dục lớn của Pháp và thế giới thế kỉ XVIII. Quan điểm giáo dục của ông được thể hiện tập trung trong cuốn Emile (1762). Ông xây dựng phương pháp gọi là “phương pháp tiêu cực”.

Bản chất của nó là tìm cách ngăn cản tật xấu đột nhập vào trái tim con người, nhằm hoàn thiện con người trước khi bước vào đời, chuẩn bị cho họ đấu tranh chiến thắng các thói hư tật xấu [dẫn theo 2 tr35]. Lý thuyết dạy học biện chứng của nhà Tâm lý học L.Vygotsky (1896-1915) có tác động không nhỏ tới các trường phái giáo dục hiện đại. Ông cho rằng sự phát triển nhận thức diễn ra tốt nhất nơi người học vượt qua “Vùng cận phát triển” thông qua việc hợp tác với bạn và với thầy. Cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa học cá nhân và học hợp tác, dạy học chính là sự hợp tác hai chiều, thầy hướng dẫn, đạo diễn và trò tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo.

Quan điểm dạy học tương tác phát triển của L.Vygotsky đã mở ra một trào lưu dạy học mới - dạy học tích cực hay nói khác là phương pháp dạy học tích cực [dẫn theo 3 tr8]. Các nhà giáo dục Xô Viết như N.Babanski với hệ thống lý thuyết dạy học đã xác định tính chất nhiều yếu tố của hoạt động dạy học và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố, đặc biệt nổi lên mối quan hệ của người dạy và người học, tam giác sư phạm: người dạy - người học - nội dung [dẫn theo 4 tr7]. Như vậy, tư tưởng của các nhà giáo dục từ cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX đã sớm thấy được vai trò quan trọng của người học trong dạy học và mối quan hệ của thầy tương ứng là tập trung vào người học, phát huy tính tích cực, thúc đẩy người học tham gia vào quá trình học tập. Bên cạnh đó, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mối quan hệ tương tác người dạy - người học và chưa bao quát được hết cấu trúc, chức năng của từng yếu tố, nhất là yếu tố môi trường chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu nhiều.

Các nghiên cứu về dạy học theo hướng quy nạp. - Quy nạp đã được đề cập trong các tác phẩm của nhà triết học Hi Lạp cổ đại Aristote (384-322 TCN): "Người học học được bằng cách trải nghiệm, bắt trước, làm và bằng cách trải nghiệm, bắt trước, làm, họ sẽ hiểu rõ lý thuyết." Vấn đề này được các nhà triết học - tự nhiên học kinh nghiệm chủ nghĩa thế kỷ 17 – 18 đặc biệt quan tâm. là những người có công hiến lớn trong nghiên cứu các vấn đề của phương pháp quy nạp - Socrates (469-399 TCN): “Người ta phải học bằng cách làm và họ sẽ tự tin nếu được tự tay làm” - Khổng Tử (551- 479 TCN): “Tôi nghe, tôi quên. Tôi thấy, tôi nhớ.

Tôi làm, tôi hiểu”. - John Locke (1632-1704) là nhà triết học và giáo dục Anh thế kỉ XVII. John Locke là người kế thừa “Thuyết duy cảm” trong trường phái triết học của Becon và áp dụng vào giáo dục. Ông đánh giá rất cao ảnh hưởng của môi trường đối với nhân cách của trẻ và coi trọng sự trải nghiệm thực tiễn của trẻ.

Ông cho rằng không được nhồi nhét vào trí nhớ của trẻ những điều mà chúng không thích, phải khơi dậy lòng ham mê hiểu biết cái mới, phát triển khả năng độc lập suy nghĩ, chủ động trong học tập. Qua đây chúng ta thấy, không phải cho tới ngày nay, khi mà sinh lý học thần kinh có những tiến bộ vượt bậc và góp phần to lớn vào việc làm rõ cơ chế hoạt động của hệ thần kinh người ta mới quan tâm tới dạy học trải nghiệm, quan tâm tới môi trường dạy học, quan tâm tới động cơ, hứng thú học tập của người học. Mà những vấn đề này - những vấn đề cơ bản được đề cập trong dạy học quy nạp ngày nay đã được các nhà giáo dục lớn trên thế giới nói tới cách đây vài thế kỷ. Kinh nghiệm đưa đến sự thay đổi quan niệm của con người.

Chúng ta học tập xuất phát từ kinh nghiệm, hay nói đúng hơn là chúng ta phải học tập từ kinh nghiệm [4]. Sự thay đổi giáo dục trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX đã mở ra nhiều hướng đổi mới dạy học tập trung vào hoạt động của người học và khai thác môi trường dạy học. Đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo dục có một số nhà thực dụng chủ nghĩa có tên tuổi như: Peirce (1839-1915), James (1842-1910), Schilles (1864-1887). Trong số họ, J.Dewey (1859-1952) là một nhà giáo dục thực dụng nổi tiếng của Mĩ, triết lý giáo dục của ông được hoan nghênh và ứng dụng rộng rãi ở Mĩ và có ảnh hưởng lớn tới nhiều nước ở châu Âu và châu Á.

Ông xem con người là cái được hình thành dưới sự tác động của nó với môi trường tự nhiên và xã hội, trong những điều kiện, tình huống xã hội cụ thể. Nếu thiếu một trong hai yếu tố, con người và xã hội thì khó có thể xem xét các vấn đề giáo dục một cách đúng đắn. Ông chủ trương xây dựng “nhà trường hoạt động” - “dạy học qua việc làm”, tư tưởng giáo dục tiến bộ của ông đã hình thành một phong trào giáo dục hiện đại trên khắp thế giới. Đặc biệt là ở các nước châu Âu và châu Mỹ trong tư tưởng giáo dục của Deway có một luận điểm quan trọng được xem là tiền đề cho chiến lược dạy học này, đó là sự ảnh hưởng của các “tương tác xã hội” trong dạy học.

Đến những năm 70 của thế kỷ XX, nhóm tác giả thuộc Viện Đại học Đào tạo Giảng viên, Giáo viên (IUFM) ở Greonoble, là Guy Brousseau, Claude Comiti, M.Margolinas… nghiên cứu về lý thuyết tình huống đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm thúc hoạt động học của người học lên mức cao nhất mà vẫn không làm lu mờ hay hạ thấp vai trò của người dạy với tư cách là người “khởi xướng” và cũng là người “kết thúc” một tình huống dạy học. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã phân tích một số vấn đề cơ bản của dạy học dựa vào tương tác như sau [dẫn theo 5]: + Một là, xác nhận cấu trúc hoạt động dạy và học gồm bốn nhân tố: Học - Dạy - Kiến thức - Môi trường. 6 + Hai là, Phân tích các vai trò khác nhau của người dạy trong tình huống dạy học: đề xuất tình huống và tổ chức cho người học giải quyết tình huống để tìm thấy kiến thức và tạo điều kiện để người học chính xác hóa kiến thức (kết quả của sự tìm tòi) thành tri thức khoa học (các tác giả gọi là ủy thác một tình huống và thể chế hóa kiến thức); phân loại tình huống dạy học và mức độ can thiệp của thầy giáo trong từng loại tình huống dạy học. + Ba là, Giải thích sự tác động giữa các nhân tố người dạy và người học trong tình huống dạy và học.

+ Bốn là, Môi trường là một thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học; môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người học, mà quan trọng ở chỗ sự thích nghi của người học trước những đòi hỏi của môi trường đã thay đổi người học, người dạy và hoạt động của họ và làm thay đổi cả chính môi trường nữa. Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu của nhóm tác giả này, tác giả nhận thấy ít đề cập đến sự tác động của thầy nhằm tạo ra nhiều tình huống dạy học để gia tăng tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học khi lĩnh hội tri thức khoa học. Bên cạnh đó, môi trường được các tác giả xem là yếu tố động, có thể thay đổi để đáp ứng cho nhu cầu người học, song ở đây các tác giả mới chỉ đề cập đến môi trường như những tình huống dạy học cụ thể, mà chưa bao quát hết hay được nhiều các khía cạnh, các mặt khác nhau của môi trường dạy học. Gần đây, hai nhà sư phạm người Canada là Jean – Marc Denommé và Madelein Roy trong các tác phẩm “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” [dẫn theo 6] và “ Sư phạm tương tác - Một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy” [7] đã nói tới một trường phái sư phạm học tương tác cùng nền tảng lý luận khoa học.

Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đạt được những kết quả như sau: xác định cấu trúc gồm ba yếu tố Người dạy - Người học - Môi trường. Xác định chức năng của từng yếu tố, quan hệ qua lại giữa các yếu tố và giữa các bộ phận trong một yếu tố. Đặc biệt, các tác giả đã phân tích kỹ cơ sở khoa học thần kinh về nhận thức và các điều kiện khác. Xác nhận các thành phần không thể thiếu của sư phạm tương tác, đó là hứng thú, hợp tác, thành công, các khâu của hoạt động dạy học.

Bên cạnh đó yếu tố môi trường trong lý luận dạy học các điều kiện này chưa được chú trọng và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến việc tổ chức hoạt động dạy và học của người dạy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Phương pháp dạy học quy nạp trong đào tạo cơ khí cao đẳng" tập trung vào việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp quy nạp trong giảng dạy ngành cơ khí, nhằm nâng cao hiệu quả học tập và kỹ năng thực hành của sinh viên. Tài liệu này cung cấp những phân tích chi tiết về cách tiếp cận quy nạp, lợi ích của nó trong việc phát triển tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để áp dụng trong môi trường đào tạo cơ khí. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho giảng viên, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp giảng dạy và nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng Việt, cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu học thuật. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ giải pháp thu hút giảng viên trình độ cao tại trường đại học Hải Dương sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chiến lược nâng cao chất lượng giảng dạy. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ xây dựng mô hình câu lạc bộ thể thao giải trí cho sinh viên mang đến góc nhìn đa chiều về phát triển môi trường học tập toàn diện.