BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Thị Hạnh Nguyên NGHIÊN CỨU MỘT ĐỒ ÁN DẠY HỌC BÀI TOÁN DỰNG HÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Thị Hạnh Nguyên NGHIÊN CỨU MỘT ĐỒ ÁN DẠY HỌC BÀI TOÁN DỰNG HÌNH Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán Mã số: 60 14 01 11 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ NHƯ THƯ HƯƠNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2014 MỤC LỤC Trang phụ bìa Trang LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU.
Lý do chọn đề tài và câu hỏi xuất phát. Câu hỏi nghiên cứu:. Khung lí thuyết tham chiếu và Phương pháp nghiên cứu. Cấu trúc luận văn.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI TƯỢNG TRI THỨC BÀI TOÁN DỰNG HÌNH.1 Về khái niệm dựng hình, bài toán dựng hình .2 Các tiên đề hình học dựng hình .3 Về dụng cụ dựng hình.4 Về các phép dựng cơ bản và các bài toán dựng hình đơn giản bằng thước và compa.5 Giải Bài toán dựng hình .6 Các phương pháp giải toán dựng hình và các bài toán dựng hình không giải được. 14 Kết luận chương I. BÀI TOÁN DỰNG HÌNH TRONG THỂ CHẾ DẠY HỌC TOÁN TRUNG HỌC CƠ SỞ.1 Giai đoạn lớp 6 và lớp 7.1 Dựng đoạn thẳng bằng đoạn thẳng cho trước.2 Dựng trung điểm của đoạn thẳng.3 Dựng tam giác biết độ dài ba cạnh .4 Dựng tia phân giác của một góc .5 Dựng một góc bằng một góc cho trước .6 Dựng đường trung trực của đoạn thẳng.7 Dựng đường thẳng đi qua một điểm và vuông góc với đường thẳng cho trước.8 Dựng đường thẳng đi qua một điểm nằm ngoài một đường thẳng cho trước và song song với đường thẳng đó. Vẽ tam giác biết độ dài hai cạnh và góc xen giữa, một cạnh và hai góc kề.2 Giai đoạn lớp 8 .1 Tình huống đưa vào định nghĩa bài toán dựng hình .2 Các bài toán dựng hình đã biết .3 Bài toán dựng hình thang .4 Các kiểu nhiệm vụ có liên quan đến “ bài toán dựng hình” trong chương trình lớp 8 .3 Giai đoạn lớp 9 .4 Kết luận chương 2.
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM .1 Mục đích thực nghiệm. Đối tượng và hình thức thực nghiệm. Nội dung thực nghiệm .1 Giới thiệu tình huống thực nghiệm.2 Dàn dựng kịch bản.4 Phân tích tiên nghiệm .1 Biến và các giá trị của biến.2 Các chiến lược, cái có thể quan sát được, sự lựa chọn của biến và ảnh hưởng của biến lên chiến lược.5 Phân tích hậu nghiệm .6 Kết luận chương 3. 82 PHỤ LỤC BIÊN BẢN THỰC NGHIỆM TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là một công trình nghiên cứu độc lập, những trích dẫn nêu trong luận văn đều chính xác và trung thực.
LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Vũ Như Thư Hương, Người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn. Cô luôn luôn động viên, gợi mở cho tôi những hướng đi đúng đắn và bổ ích. Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn các Thầy Cô chuyên ngành Phương pháp Toán trường ĐHSP Tp.HCM đã nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ những tri thức quý báu cho chúng tôi về didactic Toán sinh động, cụ thể và đầy ý nghĩa.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại học, Khoa Toán – Tin trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo những điều kiện học tập tốt nhất cho chúng tôi. Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến: Các bạn và các anh chị cao học khóa 23 chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Toán vì những động viên và góp ý chân tình. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình tôi vì những lời động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa học. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT HH : Hình học HS : Học sinh KNV : Kiểu nhiệm vụ Nxb : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên SBT : Sách bài tập THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông Tr : Trang 1 MỞ ĐẦU 1.
Lý do chọn đề tài và câu hỏi xuất phát Ghi nhận 1: Xuyên suốt quá trình phát triển của mạch kiến thức thì cấp Trung học cơ sở là cấp mà tư duy hình học của học sinh được chuyển từ hình học ghi nhận sang hình học suy diễn. Việc chuyển biến như thế đã góp phần giúp học sinh phát triển và rèn luyện khả năng tư duy logic. Bài toán dựng hình là một trong những kiến thức quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển và rèn luyện này. Một bài toán dựng hình thông thường được trình bày với 4 bước: Phân tích- dựng hình- chứng minh- biện luận.
Việc thực hiện đầy đủ các phần của bài toán dựng hình sẽ giúp học sinh có thói quen tư duy có hệ thống và nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo, tuy nhiên trong chương trình Toán ở nước ta hiện nay bài toán dựng hình được đưa vào sách giáo khoa Toán lớp 8 với yêu cầu : Khi trình bày “bài toán dựng hình” cần nêu đủ 4 bước : “Phân tích, cách dựng, chứng minh, biện luận”, điều này có tác dụng giáo dục cho học sinh một qui trình làm việc cần thiết cho cuộc sống. Tuy nhiên, để phù hợp với khả năng học tập của đa số HS, chỉ yêu cầu HS giải các bài toán dựng hình với các yếu tố bằng số cho trước và trình bày lời giải theo hai bước: cách dựng và chứng minh.6] Hay trong phần Gợi ý dạy học của sách Giáo viên: Chú ý: Trên bảng, GV chỉ ghi phần Cách dựng và Chứng minh. Lưu ý: Trong bài làm, HS chỉ cần trình bày hai phần Cách dựng và Chứng minh.115] 2 Với các yêu cầu trên, rõ ràng là các tác giả muốn chú trọng vào hai bước cách dựng và chứng minh, điều này khiến chúng tôi có một nghi vấn rằng: trong quá trình dạy học bài toán dựng hình, hai bước phân tích và biện luận có được thực hiện hay không? Ghi nhận 2: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi tìm thấy hai luận văn nghiên cứu về đối tượng tri thức bài toán dựng hình: - Hồ Lộc Thuận (2006) Bài toán dựng hình và thuật toán ở trường THCS. Trường hợp dựng tiếp tuyến với đường tròn.
Luận văn thạc sĩ trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh. Trong luận văn này, tác giả đã nghiên cứu thể chế về đối tượng bài toán dựng hình, cụ thể ở trường hợp bài toán dựng tiếp tuyến với đường tròn, tác giả đã đưa ra giả thuyết nghiên cứu: “ Đối với học sinh THCS việc giải bài toán dựng hình thực chất là phải tạo được một hình “phù hợp” với yêu cầu của bài toán”. Sau đó, một thực nghiệm được tác giả xây dựng đã đi chứng minh giả thuyết trên bởi hai quy tắc hành động của học sinh: A1: Dựng tiếp tuyến của đường tròn qua một điểm là kẻ một đường thẳng đi qua điểm đó, “chạm” đường tròn và vuông góc với bán kính tại điểm “chạm”.
A2: Học sinh chỉ tạo đúng kích thước của đề bài khi các số đo có giá trị vừa phải (<10) còn đối với các số đo có giá trị lớn (>10) thì học sinh sẽ tạo hình minh họa mô tả “chính xác” các tính chất hình học của hình được cho. - Huỳnh Quốc Hào (2006), Bài toán dựng hình trong chương trình hình học ở trường THCS.Trường hợp Bài toán dựng tam giác và hình thang, Luận văn thạc sĩ trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh. Bên cạnh nghiên cứu về đối tượng bài toán dựng hình trong thể chế dạy học toán THCS tương tự như luận văn của tác giả Hồ Lộc Thuận thì luận văn này còn có thêm phần nghiên cứu khoa học luận giới thiệu về nguồn gốc của khái niệm bài toán dựng hình và các chiến lược dựng hình gắn với bộ công cụ Euclide.
Dựa vào các kết quả phân tích thể chế kết hợp thực nghiệm kiểm chứng, tác giả đã đưa ra các qui tắc hợp đồng sau: 3 R1: Khi gặp kiểu nhiệm vụ dựng góc có số đo đặc biệt thì sử dụng bộ công cụ thước thẳng và compa. Và khi kiểu nhiệm vụ này là một phần kỹ thuật của kiểu nhiệm vụ khác thì có thể sử dụng thước đo độ. R2: Học sinh không nhận biết được trách nhiệm phải tạo ra một hình hình học. R3: Học sinh không có thói quen kiểm tra sự tồn tại nghiệm của bài toán dựng hình.
Từ các kết quả trên, chúng tôi cho rằng trong quá trình dạy học, học sinh chỉ chú trọng đến việc tạo ra hình “phù hợp” với đề bài, các bước phân tích và biện luận đã không được chú trọng trong quá trình giải. Ghi nhận 3: Như chúng ta đã biết, từ xa xưa, bài toán dựng hình đã tỏ ra khá hữu dụng trong việc giải quyết các bài toán liên quan đến thực tế, và cho đến nay bài toán dựng hình vẫn không ngừng phát huy vai trò của nó trong cuộc sống. Ở đâu đó trong cuộc sống, chúng ta vẫn gặp những vấn đề mà khi mô hình hóa bằng bài toán dựng hình thì việc giải quyết không còn khó khăn gì. Bài toán dựng hình được đưa vào chương trình Toán ở Việt Nam từ lớp 8, nhưng việc sử dụng bài toán dựng hình như một công cụ trong giải quyết các bài toán thực tế có được chương trình đề cập đến chưa? Và học sinh đã vận dụng bài toán dựng hình trong việc giải những bài toán có liên quan đến thực tế như thế nào? 2.
Câu hỏi nghiên cứu: Dựa vào những ghi nhận ban đầu, chúng tôi đặt ra câu hỏi nghiên cứu như sau: Q1: Ở cấp độ tri thức bác học, đối tượng tri thức bài toán dựng hình được đề cập như thế nào? Các khái niệm cơ bản đã được trình bày như thế nào? Q2: Mối quan hệ thể chế với đối tượng tri thức bài toán dựng hình được xây dựng và tiến triển ra sao ở cấp Trung học cơ sở ? Việc sử dụng bài toán dựng hình như một công cụ để giải quyết các bài toán thực tế có được chương trình đề cập đến chưa? Q3: Cần xây dựng một đồ án didactic như thế nào để học sinh có thể nhận thức được tầm quan trọng của các bước phân tích và biện luận trong việc giải bài toán dựng hình? 4 3.