Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở TỈNH PHÚ THỌ 1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài luận văn 1.1 Quan niệm về gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình 1.1 Quan niệm về gia đình Có thể nhận thấy rằng, ngay từ khi xuất hiện, gia đình đã được xem là hình thái văn hóa của đời sống con người, một thực thể văn hóa. Đời sống con người càng phát triển thì tính văn hóa trong đời sống con người càng phong phú, càng uyển chuyển, đa dạng. Bởi vậy, gia đình luôn thay đổi cùng với sự vận động và biến đổi của xã hội. Trong lịch sử đã có rất nhiều các quan niệm khác nhau về gia đình.
Thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Aristốt đã khẳng định gia đình "như một tập hợp người và những thành phần nhỏ nhất đầu tiên của gia đình là người chồng, người vợ, cha mẹ và con cái" [58, tr. Trong quan niệm này, mặc dù Aristốt chưa nhận ra được các chức năng của gia đình và sợi dây liên kết giữa các thành viên trong gia đình là gì nhưng ông đã chỉ ra được các quan hệ cơ bản trong gia đình, đó là: quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác cho rằng, gia đình là một tổ chức xã hội đặc biệt và mang tính xã hội cao. Sự ra đời của gia đình gắn liền với sự hình thành xã hội với những cấu trúc chặt chẽ và logic.
Trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Ph.Ăngghen đã chỉ ra các giai đoạn phát triển của gia đình với những đặc trưng về chế độ hôn nhân: đầu tiên là gia đình huyết tộc, gia đình punaluan, gia đình cặp đôi và cuối cùng là gia đình một vợ một chồng. Quá trình này bị chế định, như Ph.Ăngghen đã nêu, không phải bởi tình yêu nam nữ - yếu tố được coi là sản phẩm của một quá trình phát 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển lâu dài của lịch sử mà bởi sự hình thành chế độ tư hữu và nhà nước.Mác coi gia đình là một trong những nhân tố đầu tiên tham gia quyết định sự hình thành và phát triển của lịch sử, quan hệ giữa gia đình và xã hội như quan hệ giữa tế bào với cơ thể sống. Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" (1845), C.Mác viết “quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử là hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người tạo ra những người khác sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái. Đó là gia đình” [7, tr.
Với quan niệm này, khái niệm "gia đình" được làm rõ: gia đình là một cộng đồng xã hội đặc biệt trong đó các thành viên gắn bó với nhau bởi hai quan hệ là: quan hệ hôn nhân (chồng - vợ) và quan hệ huyết thống (cha mẹ - con cái). Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) quan tâm đến giá trị của gia đình trong vốn tinh thần của nhân loại, nghĩa là gia đình có tất cả các thời đại, các châu lục đều mang đặc trưng chung của con người, đều mang tính nhân văn, nhân ái, nhân đạo và khẳng định: "Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung và có ngân sách chung" [66, (1), tr. Ở đây, khái niệm "gia đình" được dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, phản ánh mối quan hệ cùng chung sống trong gia đình: giữa cha mẹ và con cái, họ hàng, đồng thời gắn liền với nó là chức năng kinh tế của gia đình. Theo tiến trình phát triển của xã hội, gia đình ngày càng chứng tỏ vai trò là một đơn vị kinh tế cơ sở của nó.
Đây là cơ sở tạo nên sự vững mạnh của gia đình. Dưới góc độ tâm lý học, PGS. TS Ngô Công Hoàn đã đưa ra khái niệm về gia đình như sau: "Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội. Các thành viên trong nhóm có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, cùng có chung các giá trị vật chất, tinh thần.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dưới góc độ luật học, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Tuấn lại cho rằng: "Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân và huyết thống và về nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ cùng nhau, cùng làm kinhh tế chung và nuôi dạy con cái" [61, tr. Tác giả Lê Thi thì cho rằng: Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại). Đồng thời trong gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên trong gia đình gắn bó về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều giàng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình của nước ta).
Đồng thời, gia đình cũng có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên [72, tr. Có thể khẳng định, đây là một định nghĩa khá hoàn chỉnh đã phản ánh được đầy đủ các thuộc tính đặc trưng vốn có của gia đình. Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì gia đình được hiểu là: “Một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa – xã hội của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên”. Hiện nay, có thể sử dụng khái niệm theo Luật Hôn nhân và Gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2000): “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống và do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh ra các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định”.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, có thể thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề gia đình, với nhiều nghĩa khác nhau, có thể đưa ra quan niệm khái quát nhất về gia đình như sau: Thứ nhất, gia đình là một cộng đồng xã hội được hình thành và củng cố trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống. Thứ hai, gia đình là một thiết chế xã hội, liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái. Thứ ba, gia đình có sự cố kết nhất định về kinh tế vật chất, qua đó nảy sinh nghĩa vụ và quyền lợi cho các thành viên của mình. Thứ tư, gia đình có các mối quan hệ khác nhau còn được gọi là mối quan hệ họ hàng.
Đó là sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi, những người này phải cùng sống với nhau. Trên cơ sở của quan niệm về gia đình nêu trên, có thể xem gia đình là tổ ấm yêu thương đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, từ khi lọt lòng mẹ cho đến suốt cuộc đời, mỗi cá nhân đều tìm thấy ở gia đình mình sự đùm bọc về vật chất và tinh thần, sự giáo dưỡng về mọi mặt, hưởng thụ những niềm vui của cuộc sống, được an ủi khi gặp khó khăn. Gia đình đảm bảo những điều kiện an toàn cho trẻ phát triển, người già có nơi nương tựa không bị hiu quạnh, cô đơn, người lao động được phục hồi sức khoẻ, lấy lại sự cân bằng tâm lý sau những giờ lao động mệt mỏi. Với ý nghĩa đặc biệt đó, gia đình có các chức năng cơ bản đặc thù.2 Các chức năng cơ bản của gia đình Thứ nhất, chức năng sinh sản, duy trì nòi giống Lịch sử loài người đã chứng minh rằng, xã hội tồn tại và phát triển dựa trên hai cơ sở quan trọng là tái sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất ra chính bản thân con người.
Như vậy có nghĩa là, chức năng sinh sản, duy trì nòi giống của gia đình là một chức năng không thể thiếu để duy trì sự tồn tại của xã hội loài người. Bởi vậy, có thể xem đây là chức năng đặc 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thù nhất của gia đình. Chức năng này vừa đáp ứng nhu cầu bản năng của con người giúp duy trì nòi giống, vừa là sự biểu hiện cao nhất về tình cảm rất tự nhiên của cá nhân. Nói cách khác, việc tái sản xuất ra thế hệ tương lai một mặt đáp ứng yêu cầu của xã hội, một mặt đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của chính các thành viên trong gia đình.
Vượt ra ngoài phạm vi gia đình, chức năng sinh sản, duy trì nòi giống còn ảnh hưởng trực tiếp đối với quá trình phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy việc sinh đẻ diễn ra ở từng gia đình nhưng lại quyết định tới mật độ dân cư của mỗi quốc gia và thế giới. Vì mỗi gia đình là một tế bào cấu thành nên xã hội, do đó việc tăng hay giảm các thành viên trong gia đình đương nhiên dẫn tới sự tăng hay giảm dân số của mỗi quốc gia và thế giới. Và ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi quốc gia, dân tộc lại có nhu cầu riêng về việc tăng hay giảm dân số, do đó mà mỗi quốc gia, dân tộc ở từng giai đoạn khác nhau sẽ có những chính sách khác nhau về dân số.
Ngày nay, người ta chú ý hơn tới chất lượng gia đình và con người, nói cách khác, trong gia đình hiện đại, điều quan trọng không phải là số lượng thành viên ít hay nhiều mà quan trọng hơn hết là chất lượng của các thành viên. Ở Việt Nam nói riêng và ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết.