Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895)" được tác giả Vũ Quý Thu thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2006, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Khánh và GS.NGND Đinh Xuân Lâm. Công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, mã số 62 22 54 05.

+-------------------------------------------------------------------------------+
|                      THÔNG TIN CHUNG VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ                       |
+----------------------+--------------------------------------------------------+
| Tên đề tài           | Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa  |
|                      | cuối thế kỷ XIX (1885 - 1895)                          |
| Tác giả              | Vũ Quý Thu                                             |
| Người hướng dẫn      | PGS.TS Nguyễn Văn Khánh, GS.NGND Đinh Xuân Lâm         |
| Cơ sở đào tạo        | Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN    |
| Chuyên ngành         | Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại (Mã số: 62 22 54 05)|
| Năm bảo vệ           | 2006                                                   |
+----------------------+--------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thanh Hóa là địa bàn có quy mô dân số lớn, diện tích rộng và giữ vị trí trọng yếu về mặt địa chính trị, kinh tế, quân sự qua nhiều thời kỳ lịch sử. Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký kết Hiệp ước Quý Mùi (Hác-măng, ngày 25-8-1883) và Hiệp ước Giáp Thân (Pa-tơ-nốt, ngày 6-6-1884), nền bảo hộ của thực dân Pháp chính thức áp đặt lên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Hưởng ứng chiếu Cần Vương phát động vào tháng 7-1885 của vua Hàm Nghi, phong trào kháng chiến tại Thanh Hóa dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, văn thân đã bùng nổ mạnh mẽ, quyết liệt trong suốt một thập niên (1885 - 1895).

Mặc dù phong trào Cần Vương tại Thanh Hóa đã được nhắc đến trong nhiều tài liệu lịch sử, sách thông sử và các công trình chuyên khảo của các học giả trong và ngoài nước, phần lớn các công trình này chỉ dừng lại ở việc phản ánh từng sự kiện, từng căn cứ hoặc cuộc khởi nghĩa riêng lẻ (như khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh) hoặc khai thác hành trạng của một số nhân vật tiêu biểu (Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao). Luận án xác định một khoảng trống học thuật lớn: chưa có một công trình nghiên cứu nào phản ánh một cách toàn diện, sâu sắc và có tính hệ thống về toàn bộ tiến trình lịch sử, sự liên kết giữa các địa bàn, đặc điểm tổ chức, nghệ thuật xây dựng căn cứ và nguyên nhân thất bại của phong trào chống Pháp tại tỉnh Thanh Hóa trong trọn vẹn giai đoạn 1885 - 1895.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Theo văn bản luận án, nghiên cứu đặt ra bốn nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về quá trình hình thành và phát triển các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Thanh Hóa trong khoảng 10 năm (từ năm 1885 đến năm 1895).
  2. Tái hiện những hoạt động tiêu biểu của nghĩa quân ở các căn cứ và các cuộc khởi nghĩa; xác định mối quan hệ qua lại giữa phong trào của nhân dân Thanh Hóa với phong trào ở các tỉnh lân cận và cả nước.
  3. Đưa ra nhận xét, đánh giá khoa học về đặc điểm, tính chất, vị trí lịch sử, nguyên nhân thất bại và các bài học kinh nghiệm của phong trào.
  4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn hiện trạng, tôn tạo hệ thống di tích lịch sử liên quan đến các thủ lĩnh và phong trào Cần Vương trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống và nghiên cứu học thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các cuộc nổi dậy, phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa dưới ngọn cờ Cần Vương, từ lúc phong trào bùng nổ đến khi kết thúc.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa (bao gồm vùng đồng bằng, miền biển và miền núi thượng du) đặt trong mối liên hệ với các địa phương lân cận (Nghệ An, Ninh Bình, vùng Thượng Lào) và phong trào Cần Vương toàn quốc.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1885 đến năm 1895, được luận án phân chia thành hai thời kỳ cụ thể:
    • Thời kỳ thứ nhất (1885 - đầu 1887): Phong trào chuyển biến từ các cuộc nổi dậy mang tính chất tự phát tại các làng xã lên việc tổ chức chỉ huy tập trung, xây dựng căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng và căn cứ Ba Đình.
    • Thời kỳ thứ hai (đầu 1887 - nửa đầu 1895): Trọng tâm phản ánh phong trào đấu tranh do cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh làm tiêu điểm cùng hoạt động kháng chiến tại khu vực rừng núi miền Tây Thanh Hóa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả Vũ Quý Thu đã tiến hành khảo cứu và hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau:

+-------------------------------------------------------------------------------+
|                   CÁC NHÓM NGUỒN TÀI LIỆU VỀ PHONG TRÀO                       |
+-----------------------+-------------------------------------------------------+
| Tài liệu của Pháp     | Ghi chép của Paul Bert, Daufès, Masson, F. Bernard,   |
|                       | Galliéni, tài liệu quân sự chính thức                 |
| Sử liệu triều Nguyễn  | Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí,  |
|                       | Báo cáo của Trần Lục (cha Sáu)                        |
| Nghiên cứu trước 1975 | Sách của Trần Trọng Kim, Phan Trần Chúc, Phạm Văn Sơn |
| Sử học mác-xít VN     | Công trình của Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu,          |
| (từ sau 1954)         | Đinh Xuân Lâm, Trịnh Nhu, Vũ Huy Phúc...              |
| Nghiên cứu quốc tế    | Nina S. Adams, Charles Fourniau, Yoshiharu Tsuboi,    |
|                       | David G. Marr                                         |
| Nghiên cứu địa phương | Địa chí Thanh Hóa, Kỷ yếu các hội thảo khoa học      |
| và điền dã            | Ba Đình (1986), Cầm Bá Thước (1995), Hà Văn Mao (2002)|
+-----------------------+-------------------------------------------------------+

Các nguồn tài liệu và hướng tiếp cận trước đây

  1. Ghi chép và tài liệu của thực dân Pháp: Các tác giả và sĩ quan Pháp trực tiếp tham chiến thừa nhận vị trí chiến lược của Thanh Hóa. Tháng 10-1886, Tổng trú sứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ Paul Bert đánh giá tình hình Thanh Hóa gây nhiều lo ngại cho chính quyền bảo hộ bởi quy mô tổ chức, sự giàu có và tính chất liên kết với các dòng sông lớn sang Lào. Daufès trong tổng kết quân sự Đông Dương nhận định cuộc công hãm Ba Đình trong chiến dịch Thu - Đông 1886 - 1887 là trận chiến quan trọng nhất. Các tác phẩm khác gồm có Souvenirs de L'Annam et du Tonkin của Masson, L'Indochine: erreurs et dangers của F. Bernard, Trois colonnes au Tonkin (1894-1895) của Galliéni, và Histoire militaire de l'Indochine de 1664 à nos jours.
  2. Sử liệu triều Nguyễn và tài liệu tay sai: Bộ quốc sử Đại Nam thực lục chính biên có 11 lần đề cập đến phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa. Khâm sai tuyên phủ sứ Trần Lục (cha Sáu) trong các báo cáo gửi chính quyền thực dân ghi nhận sự hiểm trở của địa bàn và hoạt động mạnh của nghĩa quân tại Thạch Đồng, Ổn Lâm thuộc phủ Tĩnh Gia và Nông Cống.
  3. Ấn phẩm trước năm 1945 và miền Nam trước năm 1975: Cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chỉ ghi vài dòng ngắn về Hà Văn Mao và nhấn mạnh vào việc đốt phá làng đạo; cuốn Ba Đình truyện ký của Phan Trần Chúc mang nặng yếu tố hư cấu văn học; cuốn Việt Nam quân sử (tập II, Việt sử Tân biên) của Phạm Văn Sơn có góc nhìn chính trị thiếu khách quan và hạn chế về mặt tư liệu lịch sử.
  4. Thành tựu của nền sử học mác-xít Việt Nam từ sau 1954: Các tác phẩm thông sử và chuyên khảo lớn đã nghiên cứu phong trào Cần Vương Thanh Hóa như Dự thảo lịch sử cận đại Việt Nam, Lịch sử 80 năm chống Pháp của Trần Huy Liệu; Chống xâm lăng của Trần Văn Giàu; giáo trình Lịch sử cận đại Việt Nam của nhóm tác giả Đại học Tổng hợp Hà Nội (Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, Đặng Huy Vận); Lịch sử Việt Nam của Hoàng Văn Lân và Ngô Thị Chính; Lịch sử Việt Nam (1858 - 1896) của Viện Sử học do Vũ Huy Phúc chủ biên; công trình Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh của Đinh Xuân Lâm và Trịnh Nhu (1995); các hội thảo khoa học cấp tỉnh kỷ niệm phong trào Ba Đình (1986), danh nhân Cầm Bá Thước (1995), danh nhân Hà Văn Mao (2002).
  5. Nghiên cứu của các học giả quốc tế: Luận án tiến sĩ của Nina S. Adams (Đại học Yale, 1978) về kháng chiến chống Pháp 1885 - 1895; luận án tiến sĩ của Charles Fourniau (1983) về các cuộc đụng độ Pháp - Việt từ 1885 đến 1889; công trình của Yoshiharu Tsuboi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 - 1885); công trình của David G. Marr (Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925).

Khoảng trống luận án giải quyết

Tác giả nhận thấy các công trình trước đây chỉ phân tích từng trận đánh, từng nhân vật hoặc một địa bàn cụ thể mà chưa đặt toàn bộ phong trào trong một chỉnh thể thống nhất kéo dài 10 năm. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng đầy đủ mạng lưới căn cứ liên hoàn (từ đồng bằng ven biển lên miền trung du, miền núi), làm rõ vai trò của các căn cứ ít được khảo cứu kỹ như Ổn Lâm - Kỳ Thượng, Mã Cao, Điền Lư, Mường Kỷ, đồng thời tổng kết hệ thống nguyên nhân, đặc điểm và bài học lịch sử của phong trào tại Thanh Hóa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phong trào giải phóng dân tộc, chiến tranh nhân dân, đấu tranh vũ trang và vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chủ yếu: Sử dụng phương pháp lịch sử (tái hiện diễn biến sự kiện theo trình tự thời gian khách quan) kết hợp chặt chẽ với phương pháp lôgíc (phân tích bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ nhân quả bên trong phong trào).
  • Phương pháp bổ trợ: Kết hợp các phương pháp mô tả, thống kê, phân tích tài liệu, đối chiếu so sánh văn bản lịch sử, và phương pháp tổng kết thực tiễn lịch sử.

Nguồn tư liệu sử dụng

  1. Nguồn tài liệu thành văn:
    • Khai thác tài liệu lưu trữ tại các cơ quan Trung ương và các cơ quan lưu trữ tại tỉnh Thanh Hóa.
    • Các bộ sử chính thống của Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên (các tập 11, 20, 27, 36, 37, 38) và Đại Nam nhất thống chí (phần tỉnh Thanh Hóa).
    • Văn bản Hán Nôm, thư tịch cổ, các báo cáo quân sự và hồi ký của các sĩ quan Pháp.
  2. Nguồn tài liệu điều tra thực địa (điền dã):
    • Sưu tầm và giải mã gia phả dòng họ (tiêu biểu là Nguyễn tộc gia phả do Tú Phương soạn thảo ngày 7 tháng 10 năm Tự Đức thứ 33 - 1880, do tác giả công bố và dịch thuật), các bản phân chia điền thổ, bằng sắc phong kiến, văn tế, thần tích.
    • Thu thập thơ văn dân gian, các bài vè lịch sử lưu truyền trong nhân dân (như Vè quan Tham Phương).
    • Khảo sát thực địa dấu tích chiến lũy, công sự, ao lò rèn, cồn bãi quân sự tại các huyện Nông Cống, Nga Sơn, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thường Xuân, Bá Thước, Như Thanh; phỏng vấn hồi cố các nhân chứng và người cao tuổi tại địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thanh Hóa trước khi phong trào yêu nước chống thực dân Pháp bùng nổ (tháng 7-1885)

Chương 1 phân tích toàn diện về bối cảnh tự nhiên, vai trò chiến lược, truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước của nhân dân xứ Thanh, cùng thực trạng chính trị, quân sự và công tác chuẩn bị lực lượng của các thủ lĩnh yêu nước trước khi tiếng súng Cần Vương chính thức nổ ra.

+---------------------------------------------------------------------------------------+
|               HỆ THỐNG THÀNH BẢO VÀ PHÒNG THỦ THỜI NGUYỄN TẠI THANH HÓA               |
+------------------+-----------------------------+--------------------------------------+
| Tên công trình   | Địa điểm                    | Quy mô & Trang bị                    |
+------------------+-----------------------------+--------------------------------------+
| Thành tỉnh       | Thôn Thọ Hạc (Đông Sơn)     | Chu vi 630 trượng, cao 1 trượng,     |
|                  |                             | hào rộng 8 trượng 8 thước            |
| Bảo Biện Sơn     | Ngoài Cửa Bạng (Ngọc Sơn)   | Chu vi 58 trượng 8 thước 8 tấc,      |
|                  |                             | cao 8 thước 2 tấc; 12 đại bác        |
| Bảo Thổ Sơn      | Thôn Cư Nhân, xã Vân Trai   | Chu vi 252 trượng, cao 9 thước       |
|                  | (Ngọc Sơn)                  | 2 tấc, hào rộng 2 trượng; 8 đại bác  |
| Pháo đài Tĩnh Hải| Phía Tây Biện Sơn           | Chu vi 11 trượng 8 tấc; 4 đại bác    |
| Bảo Trấn Nam     | Huyện Tống Sơn              | Lũy đất chu vi 80 trượng             |
| Thành Triệu Tường| Huyện Tống Sơn              | Chu vi 182 trượng, mở 3 cửa          |
| Pháo đài Vân Tụ  | Phía Tây thành Triệu Tường  | Chu vi 13 trượng 8 thước; 4 đại bác  |
| Bảo Ninh Lương   | Xã Mỹ Chánh (Lang Chánh)    | Đắp năm 1837, sau đổi làm châu lỵ    |
| Bảo Tùng Hóa     | Xã Hồi Xuân (Quan Hóa)      | Đắp năm 1837 tại nơi hợp lưu ba sông |
| Bảo Sơn Châu     | Thôn Sơn Châu (Ngọc Sơn)    | Lập năm Thiệu Trị thứ nhất (1841)    |
+------------------+-----------------------------+--------------------------------------+
  • Vị trí chiến lược: Tỉnh Thanh Hóa có diện tích tự nhiên rộng, chia thành ba vùng rõ rệt (vùng rừng núi chiếm 3/4 diện tích, vùng đồng bằng phì nhiêu và dải bờ biển dài 120 km). Địa thế tựa núi nhìn biển, nằm ở điểm nút giao thông huyết mạch giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, đóng vai trò như chiếc đòn gánh kết nối hai miền đất nước. Lịch sử đã chứng minh Thanh Hóa là địa bàn phên dậu, căn cứ xuất phát và hậu cứ chiến lược của nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm (từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Lê Hoàn, nhà Trần, nhà Hồ, khởi nghĩa Lam Sơn cho đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này). Nhà cải cách Nguyễn Lộ Trạch từng nhận định Thanh Hóa có đủ ba lợi thế căn bản: địa hiểm, binh lực và tài lực.
  • Tình hình chính trị - hành chính: Dưới thời Nguyễn, Thanh Hóa gồm 5 phủ (Hà Trung, Thiệu Hóa, Quảng Hóa, Thọ Xuân, Tĩnh Gia) quản lý 16 huyện và 3 châu (Quan Hóa, Thường Xuân, Lang Chánh), cùng 1 phủ ky mi Trấn Man (lãnh 3 huyện ky mi: Trịnh Cố, Man Duy, Sầm Nưa). Tỉnh lỵ đặt tại thôn Thọ Hạc. Bộ máy cai trị Nam triều gồm Tổng đốc, Bố chánh, Án sát, Đề đốc/Lãnh binh. Đến tháng 11-1885, thực dân Pháp mới chính thức tiến quân vào chiếm đóng Thanh Hóa, muộn hơn so với hai tỉnh lân cận là Ninh Bình và Nghệ An do e ngại sự chuẩn bị phòng thủ và truyền thống bất khuất của địa phương.
  • Tổ chức quân sự thời Nguyễn: Quân đội cấp tỉnh phiên chế theo cơ, đội. Về trang bị hỏa lực, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), triều đình quy định tỉnh Thanh Hóa được phân bổ 14 cỗ hồng y cương pháo, 6 cỗ phách sơn cương pháo, 16 cỗ quá sơn đồng pháo; phủ Tĩnh Gia có 4 cỗ phách sơn cương pháo và 4 cỗ quá sơn đồng pháo (tổng cộng 44 cỗ pháo cho toàn tỉnh). Quân số chính quy thời Gia Long (1819) là 5.755 lính, thời Minh Mạng (1829) hơn 6.400 lính, và thời Tự Đức đạt khoảng 7.300 lính. Ngoài bộ binh thuộc doanh Hổ Uy (vệ Hùng Võ khoảng 500 lính), đồn thủy binh đóng trên sông Mã (dưới chân núi Hàm Rồng) có 2 cơ hữu thủy và tả thủy với quy mô khoảng 1.000 quân.
  • Công tác chuẩn bị kháng chiến của sĩ phu yêu nước: Từ năm 1879, Tôn Thất Thuyết về dưỡng bệnh tại Thanh Hóa đã bí mật liên lạc với các trí thức yêu nước như Tống Duy Tân (được bổ dụng Đốc học rồi Chánh sứ sơn phòng Quảng Hóa), Đề đốc Trần Xuân Soạn, Cầm Bá Thước, tri phủ Nông Cống Tôn Thất Hàm. Khi vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương lần thứ hai (tháng 9-1885), người dân Thanh Hóa đã sẵn sàng lực lượng. Hội nghị tại Bồng Trung (Vĩnh Lộc) và chùa Trang Các (Hà Trung) vào tháng 3-1886 đã thống nhất kế hoạch xây dựng các căn cứ kháng chiến trọng điểm như Ba Đình (do Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng phụ trách), Mã Cao (do Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao phụ trách), đồng thời kết nối các toán nghĩa quân tại Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Nông Cống và vùng thượng du.

Chương 2: Từ căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng đến khởi nghĩa Ba Đình (1885 - 1887)

Chương 2 trình bày chi tiết về sự hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động quân sự của căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ngọc Phương, cũng như diễn biến của cuộc khởi nghĩa Ba Đình.

+---------------------------------------------------------------------------------------+
|                    CẤU TRÚC KHÔNG GIAN CĂN CỨ ỔN LÂM - KỲ THƯỢNG                     |
+-------------------+-----------------------------------+-------------------------------+
| Phân khu          | Vị trí & Công trình               | Chức năng & Chỉ huy           |
+-------------------+-----------------------------------+-------------------------------+
| Vòng ngoài        | Làng Ổn Lâm, đồn tiền tiêu Cấp Ké,| Cơ sở hậu cần, rèn đúc vũ khí |
| (Vùng ngoại vi)   | đồn Yên Mỹ                        | do Hồ Sĩ Xềnh và Hỗ Sỹ Can   |
|                   |                                   | (Cửu Ngôn) chỉ huy            |
| Khu trung tâm     | Thung lũng Ba Đồn (Đại Đồn),      | Thành lũy đất cao 2m, dài hơn |
|                   | bao bọc bởi đầm lầy Khe Tre       | 1 km, 3 vọng gác; cơ quan chỉ |
|                   |                                   | huy và luyện quân của Tú Phương|
| Khu hậu cứ        | Làng Kỳ Thượng (sát rừng núi      | Đình Kỳ Thượng, giáo trường   |
| (Vùng căn bản)    | Như Xuân), giáo trường Lèn Bót   | Lèn Bót, nơi đóng quân của Đội|
|                   |                                   | cảm tử quân (300 người)       |
+-------------------+-----------------------------------+-------------------------------+
  • Thủ lĩnh Nguyễn Ngọc Phương (Tú Phương): Sinh năm 1832 tại làng Yên Tôn, tổng Văn Trường, phủ Tĩnh Gia (nay thuộc huyện Nông Cống), đỗ Tú tài năm 1878, mở trường dạy học và đào tạo nhiều học trò có lòng yêu nước. Sau chiếu Cần Vương (7-1885), ông ra chỉ đạo kháng chiến, được Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi phong chức Tham biện sơn hải phòng quân vụ kiêm quản phủ Tĩnh Gia.
  • Địa thế và cấu trúc căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng: Căn cứ trải dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ Ngã Ba Chuồng đến vùng rừng núi Như Thanh với chiều dài 20 km, rộng 7 - 8 km, kiểm soát địa bàn phía Nam Thanh Hóa và giáp ranh Nghệ An. Căn cứ gồm 3 khu vực:
    • Vòng ngoài: Làng Ổn Lâm gồm xóm Sơn Ná (trại rèn đúc vũ khí), kho lương Đông Nam, đồn điểm danh phía Tây, cùng hệ thống đồn tiền tiêu Cấp Ké, Yên Mỹ có lũy tre bao bọc.
    • Khu trung tâm (Đại Đồn/Ba Đồn): Thung lũng bằng phẳng được bao bọc tự nhiên bởi đầm lầy Khe Tre rộng đến 300 m. Nghĩa quân xây thành đất dài hơn 1 km, rộng 500 m, tường thành cao 2 m, chân kè đá và cắm cọc tre gai, xung quanh lập 3 vọng gác trên các đồi cao.
    • Khu hậu cứ: Đặt tại đình làng Kỳ Thượng và giáo trường Lèn Bót, có đội nghĩa dũng cảm tử quân thiện chiến khoảng 300 người.
  • Tổ chức lực lượng và hậu cần: Đến tháng 3-1886, số lượng nghĩa quân tại căn cứ đạt khoảng 1.000 người, phiên chế thành cơ và đội (10 người/đội, 3 đội/cơ), lấy tên các huyện đặt tên cơ như Quảng Thanh cơ, Nông Thanh cơ. Mạng lưới hậu cần bao gồm kho gạo đình Xá Lý, kho thóc làng Phượng La Đông, kho lương Mậu Lâm, kho muối Cung Điền, kho vật dụng Hương Trì và Yên Dân.
  • Hoạt động quân sự: Nghĩa quân Ổn Lâm phục kích đánh chặn địch cướp bóc, tấn công đồn Mưng (tiêu diệt quan lại bù nhìn và lính khố xanh vào tháng 1 và tháng 2-1886), tập kích đồn Thị Long thu toàn bộ vũ khí quân trang, đánh thắng đồn Eo Son và tổ chức trận địa mai phục diệt quân Pháp tại đồn Cấp Ké khi chúng mưu toan tấn công căn cứ vào tháng 3-1886. Nghĩa quân Ổn Lâm cũng phối hợp tham gia trận đánh tập kích tỉnh thành Thanh Hóa.
  • Khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887): Được tổ chức tại ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê (huyện Nga Sơn) dưới sự chỉ huy của Phạm Bành, Đinh Công Tráng. Nghĩa quân xây dựng công sự phòng thủ kiên cố với lũy tre, hào sâu cắm chông, công sự đất vững chắc, liên kết chặt chẽ với căn cứ hỗ trợ Mã Cao (Yên Định). Trận công hãm Ba Đình diễn ra ác liệt trong chiến dịch Thu - Đông 1886 - 1887, bẻ gãy nhiều đợt tấn công của quân viễn chinh Pháp, gây tổn thất nghiêm trọng cho sinh lực địch trước khi rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng.

Chương 3: Khởi nghĩa Hùng Lĩnh bước phát triển mới của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa (1887 - 1895)

  • Căn cứ Bồng Trung - Đa Bút: Sau khi căn cứ Ba Đình và Mã Cao thất thủ vào đầu năm 1887, ngọn cờ Cần Vương tại Thanh Hóa chuyển dịch về căn cứ Hùng Lĩnh (thuộc huyện Vĩnh Lộc) dưới sự lãnh đạo của Tiến sĩ Tống Duy Tân và thủ lĩnh Cao Điển. Căn cứ Hùng Lĩnh tận dụng địa hình hiểm trở dọc tả ngạn sông Mã, nối liền các huyện Vĩnh Lộc, Yên Định, Thạch Thành, Cẩm Thủy.
  • Phương thức tác chiến: Khắc phục hạn chế của lối đánh phòng thủ tĩnh tại Ba Đình, nghĩa quân Hùng Lĩnh chuyển hướng sang tác chiến cơ động, vận động chiến kết hợp du kích, phân tán lực lượng tập kích các đồn bốt, kho tàng của địch rồi rút lui an toàn vào rừng núi.
  • Phong trào kháng chiến miền Tây Thanh Hóa:
    • Căn cứ Trịnh Vạn (huyện Thường Xuân) do thủ lĩnh người Thái Cầm Bá Thước xây dựng và chỉ huy, trở thành trung tâm kháng chiến bền bỉ ở vùng rừng núi phía Tây, liên kết mật thiết với phong trào của Phan Đình Phùng tại Hà Tĩnh.
    • Căn cứ Điền Lư và căn cứ Mường Kỷ (huyện Bá Thước) do Hà Văn Mao và Hà Văn Nho lãnh đạo, kiểm soát vùng núi hiểm trở dọc sông Mã, sông Lò, gây nhiều khó khăn cho các chiến dịch càn quét của quân Pháp.
    • Phong trào thể hiện sự gắn kết bền chặt giữa cộng đồng người Kinh ở vùng xuôi với các đồng bào dân tộc thiểu số (Thái, Mường) ở miền núi thượng du, duy trì ngọn lửa kháng chiến chống Pháp kéo dài đến nửa đầu năm 1895.

Chương 4: Đặc điểm, tính chất và kinh nghiệm của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở tỉnh Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX

  • Đặc điểm nổi bật:
    • Phong trào nổ ra sớm, có sự chuẩn bị chu đáo về tư tưởng và tổ chức trước khi quân Pháp đặt chân đến tỉnh lỵ.
    • Quy mô rộng lớn, diễn ra liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa ba vùng sinh thái - chiến lược: đồng bằng, miền ven biển và vùng rừng núi thượng du.
    • Thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, từ nông dân, trí thức văn thân sĩ phu đến đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi.
    • Nghệ thuật quân sự phong phú: từ việc xây dựng các làng chiến đấu phòng ngự kiên cố (Ba Đình, Ổn Lâm) đến phương thức tác chiến du kích phân tán, linh hoạt ở vùng rừng núi (Hùng Lĩnh, Trịnh Vạn, Điền Lư).
  • Tính chất phong trào: Mang tính chất yêu nước giải phóng dân tộc sâu sắc dưới danh nghĩa Cần Vương phò vua cứu nước, đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng Nho giáo nhưng nội dung thấm đượm tinh thần nhân dân quật khởi.
  • Vị trí lịch sử: Phong trào Cần Vương Thanh Hóa là mắt xích chiến lược quan trọng nối liền phong trào yêu nước Bắc Kỳ và Trung Kỳ, cản trở đáng kể tiến trình bình định quân sự và kế hoạch khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tại Việt Nam cuối thế kỷ XIX.
  • Nguyên nhân thất bại:
    • Sự chênh lệch quá lớn về tương quan lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự giữa nghĩa quân và quân đội thực dân.
    • Khủng hoảng về hệ tư tưởng và đường lối lãnh đạo: ý thức hệ phong kiến không còn đủ khả năng đưa phong trào giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn.
    • Sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp và các lực lượng tay sai phản động bản xứ trong việc đàn áp, phong tỏa và cô lập căn cứ nghĩa quân.
  • Bài học kinh nghiệm: Bài học về công tác xây dựng căn cứ địa gắn liền với thế trận lòng dân; bài học về kết hợp phòng thủ kiên cố với cơ động tác chiến; bài học xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Kinh - Thượng và bài học về công tác bảo đảm bảo mật, hậu cần chiến lược.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lịch sử học và lý luận:
    • Luận án đã hệ thống hóa và phân kỳ tiến trình phát triển của phong trào yêu nước chống Pháp tại Thanh Hóa (1885 - 1895) thành hai giai đoạn rõ ràng: giai đoạn 1885 - 1887 và giai đoạn 1887 - 1895.
    • Phục dựng một cách hoàn chỉnh bức tranh toàn cảnh về hoạt động chiến đấu của các đội nghĩa quân dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh: Nguyễn Ngọc Phương, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao, Hà Văn Nho.
    • Luận án bổ sung những cứ liệu lịch sử mới, khảo cứu chi tiết về cấu trúc quân sự, quy mô căn cứ và diễn biến tác chiến tại các cứ điểm ít được nhắc đến như căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng (Nam Thanh Hóa), căn cứ Mã Cao (Yên Định), căn cứ Điền Lư và Mường Kỷ (Bá Thước).
    • Đánh giá toàn diện mối quan hệ phối hợp liên vùng giữa phong trào Cần Vương Thanh Hóa với các địa bàn lân cận (Ninh Bình, Nghệ An, Thượng Lào).
  2. Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
    • Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm khoanh vùng, bảo vệ hiện trạng và tôn tạo các di tích lịch sử ghi dấu chiến công của nghĩa quân Cần Vương tại các huyện Nông Cống, Nga Sơn, Vĩnh Lộc, Thường Xuân, Bá Thước.
    • Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình Lịch sử Việt Nam và lịch sử địa phương tại các trường đại học, cao đẳng.
    • Góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu thành văn nguyên bản của nghĩa quân Cần Vương bị thất lạc hoặc tiêu hủy trong chiến tranh và thời kỳ thực dân đàn áp, nhiều sự kiện lịch sử phải dựa vào nguồn tư liệu điền dã, hồi cố dân gian và các báo cáo quân sự của phía Pháp nên cần tiếp tục đối chiếu, kiểm chứng thêm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khai thác các nguồn tư liệu lưu trữ hải ngoại tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (ANOM) và các văn bản Hán Nôm chưa được dịch thuật đầy đủ.
    • Phối hợp phương pháp khảo cổ học quân sự để tiến hành thám sát, khai quật địa tầng tại các di tích công sự Ba Đình, Ổn Lâm - Kỳ Thượng, Mã Cao, Trịnh Vạn nhằm làm sáng tỏ thêm về quy mô công trình phòng ngự và hiện vật vũ khí tự tạo của nghĩa quân.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử: Phục vụ công tác học tập, nghiên cứu chuyên sâu về phong trào Cần Vương và lịch sử Việt Nam giai đoạn cận đại (1858 - 1896).
  • Giảng viên và giáo viên: Làm tài liệu giảng dạy chuyên đề lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương tỉnh Thanh Hóa.
  • Cơ quan quản lý văn hóa, bảo tồn di tích: Cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ công tác xếp hạng di tích lịch sử, quy hoạch trùng tu tôn tạo các địa điểm chiến tích (Ba Đình, Ổn Lâm, Trịnh Vạn...) và xây dựng các tuyến du lịch lịch sử về nguồn.

Câu hỏi thường gặp

1. Phong trào Cần Vương tại Thanh Hóa (1885 - 1895) được luận án phân kỳ thành những giai đoạn nào?
Luận án phân chia phong trào thành hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (1885 - đầu 1887): Phong trào từ các cuộc nổi dậy tự phát phát triển thành phong trào có tổ chức, xây dựng căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng và cuộc chiến đấu phòng ngự kiên cường tại căn cứ Ba Đình.
  • Giai đoạn 2 (đầu 1887 - nửa đầu 1895): Trọng tâm là cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân lãnh đạo cùng phong trào kháng chiến bền bỉ của đồng bào các dân tộc thiểu số tại miền Tây Thanh Hóa.

2. Căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng có quy mô tổ chức và cấu trúc quân sự như thế nào?
Căn cứ trải dài 20 km dọc vành đai Đông Bắc - Tây Nam qua Nông Cống, Tĩnh Gia, Như Thanh. Căn cứ chia làm ba phân khu: vòng ngoài làng Ổn Lâm (cơ sở hậu cần xóm Sơn Ná, kho lương, đồn tiền tiêu Cấp Ké, Yên Mỹ); khu trung tâm Đại Đồn ở thung lũng Ba Đồn (thành đất cao 2 m, dài hơn 1 km, hào bùn Khe Tre, 3 vọng gác); và hậu cứ đình Kỳ Thượng cùng giáo trường Lèn Bót (đội cảm tử 300 quân). Lực lượng nghĩa quân đạt khoảng 1.000 người, tổ chức theo cơ đội chặt chẽ.

3. Trước khi phong trào Cần Vương bùng nổ, hệ thống thành lũy và hỏa lực của nhà Nguyễn tại Thanh Hóa được bố phòng ra sao?
Năm 1835, tỉnh Thanh Hóa được bố trí 44 cỗ đại bác (14 hồng y cương pháo, 6 phách sơn cương pháo, 16 quá sơn đồng pháo ở tỉnh lỵ; 4 phách sơn cương pháo và 4 quá sơn đồng pháo tại phủ Tĩnh Gia). Hệ thống phòng thủ gồm nhiều thành bảo kiên cố: Thành tỉnh Thọ Hạc (chu vi 630 trượng), Bảo Biện Sơn (12 khẩu pháo), Bảo Thổ Sơn (8 khẩu pháo), Pháo đài Tĩnh Hải (4 khẩu pháo), Thành Triệu Tường, Pháo đài Vân Tụ (4 khẩu pháo), Bảo Trấn Nam, Bảo Ninh Lương, Bảo Tùng Hóa và Bảo Sơn Châu.

4. Những thủ lĩnh tiêu biểu nào đã chỉ huy các trung tâm kháng chiến tại Thanh Hóa?
Phong trào quy tụ nhiều lãnh tụ xuất sắc: Nguyễn Ngọc Phương (vùng Nam Thanh Hóa, căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng), Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt (căn cứ Ba Đình), Trần Xuân Soạn (Tả quân Đô thống), Tống Duy Tân, Cao Điển (căn cứ Hùng Lĩnh), Cầm Bá Thước (căn cứ Trịnh Vạn - Thường Xuân), Hà Văn Mao (căn cứ Điền Lư - Quan Hóa, Bá Thước) và Hà Văn Nho (căn cứ Mường Kỷ).

5. Luận án đã khai thác những nguồn tư liệu mới nào trong quá trình nghiên cứu?
Ngoài sử liệu thành văn (Đại Nam thực lục, tài liệu lưu trữ Pháp), luận án đặc biệt khai thác nguồn tư liệu điền dã thực địa phong phú tại các làng xã: Nguyễn tộc gia phả do chính Tú Phương soạn thảo năm 1880, các văn tế, sắc phong, bản phân chia điền thổ, các bài vè dân gian (Vè quan Tham Phương), cùng việc khảo sát trực tiếp dấu tích các công sự hào lũy, ao lò rèn tại địa phương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Quý Thu đã hoàn thành việc nghiên cứu, phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Hóa giai đoạn 1885 - 1895. Công trình làm rõ vị trí chiến lược của địa bàn Thanh Hóa, nghệ thuật xây dựng căn cứ liên hoàn từ đồng bằng lên miền núi, cũng như sự gắn kết bền chặt giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp Cần Vương. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa nguồn sử liệu thành văn và tư liệu điều tra điền dã, luận án đã đóng góp nhiều cứ liệu khoa học xác thực, khẳng định ý nghĩa lịch sử sâu sắc và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.