Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1862 - 1867 ghi nhận những biến động chính trị và quân sự sâu sắc nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại. Sau khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tại Đà Nẵng năm 1858 rồi đánh chiếm đại đồn Chí Hòa vào tháng 2 năm 1861, triều đình nhà Nguyễn buộc phải ký kết Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862, cắt nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Đến tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp tiếp tục lấn chiếm 3 tỉnh miền Tây, hoàn tất mưu đồ thôn tính toàn bộ Lục tỉnh Nam Kỳ. Trong vòng 5 năm đầy thử thách ấy, phong trào kháng chiến của nhân dân vùng đất Đồng Tháp đã bùng nổ mạnh mẽ, trở thành ngọn cờ đầu và là chỗ dựa vững chắc cho làn sóng bất khuất tại vùng Tây Nam Bộ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ quá trình đấu tranh vũ trang kiên cường của quân dân Đồng Tháp từ năm 1862 đến năm 1867, làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa triều đình Huế với các phong trào kháng chiến bản địa. Mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích các tiền đề lịch sử - xã hội tác động đến phong trào, phục dựng chi tiết hoạt động của các thủ lĩnh tiêu biểu như Hùng Dõng tướng Nguyễn Công Nhàn và Thiên hộ Võ Duy Dương, đồng thời đánh giá toàn diện vị thế của Đồng Tháp trong bức tranh lịch sử dân tộc.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay, vốn thuộc huyện Kiến Đăng (tỉnh Định Tường) cùng các huyện Vĩnh An, Đông Xuyên (tỉnh An Giang) trong hệ thống hành chính thời Nguyễn. Khảo cứu này mang ý nghĩa khoa học to lớn khi khai thác hơn 15 tập Châu bản triều Nguyễn nguyên bản, góp phần bổ sung nguồn tư liệu gốc quý giá cho lịch sử địa phương và lịch sử quân sự Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với hệ thống lý luận về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Công trình vận dụng 2 lý thuyết nền tảng: lý thuyết về chiến tranh vệ quốc chính nghĩa chống chủ nghĩa thực dân xâm lược và lý thuyết về địa - văn hóa, địa - quân sự trong tổ chức căn cứ kháng chiến.

Khung phân tích tập trung làm rõ 4 khái niệm khoa học cốt lõi:

  • Đồn điền quân sự hóa: Mô hình khẩn hoang kết hợp sản xuất nông nghiệp với phòng thủ biên cương được thiết lập từ thời Gia Long và Minh Mạng, tạo ra lực lượng dân binh dự bị hùng hậu.
  • Kháng chiến toàn dân: Hình thức chiến tranh thu hút mọi tầng lớp xã hội tham gia, từ quan lại triều đình, sĩ phu yêu nước đến nông dân khai hoang và đồng bào các dân tộc thiểu số.
  • Căn cứ du kích đầm lầy: Nghệ thuật tổ chức phòng tuyến quân sự dựa vào địa hình tự nhiên hiểm trở của vùng Đồng Tháp Mười và hệ thống kênh rạch chằng chịt.
  • Chiến lược "ngoài hòa trong đánh": Đường lối chỉ đạo bí mật của triều đình Tự Đức nhằm hỗ trợ vũ khí, lương thảo và sắc phong cho nghĩa quân Nam Kỳ sau năm 1862.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo được áp dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp thủ pháp so sánh đồng đại và liên ngành địa danh học:

  • Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Tác giả tiến hành khảo cứu toàn diện 18 tập Châu bản triều Nguyễn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (tiêu biểu như các tập 102, 104, 118, 133, 141, 177, 220), hệ thống địa bạ cổ triều Nguyễn ghi nhận 62 xã thôn vùng đất Đồng Tháp, 2 cuốn hồi ký chiến trường của sĩ quan viễn chinh Pháp (Leopold Pallu năm 1861 và Lucien de Grammont năm 1863), cùng nhiều sắc phong, văn bia di tích địa phương.
  • Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích, tập trung phân tích các văn thư chỉ dụ, sớ tấu quân sự và báo cáo thực địa trực tiếp liên quan đến chiến sự tại Định Tường và An Giang trong giai đoạn 1859 - 1871.
  • Lý do lựa chọn: Sự kết hợp giữa nguồn sử liệu Hán - Nôm nguyên bản và tư liệu của đối phương giúp tái hiện tiến trình lịch sử một cách khách quan, bóc tách chính xác mối quan hệ thực tế giữa trung ương triều đình và phong trào kháng chiến địa phương, loại bỏ các nhận định thiên kiến một chiều. Quá trình thu thập và xử lý tài liệu được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 12 tháng tại các trung tâm lưu trữ lớn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chứng minh Đồng Tháp sở hữu lực lượng vũ trang địa phương rất đông đảo và có tính tổ chức cao nhờ di sản từ chính sách đồn điền quân sự hóa. Số liệu từ Châu bản triều Tự Đức tập 133 năm 1862 ghi nhận quân số thường trực tại An Giang đạt 4.902 binh lính và Vĩnh Long là 5.865 binh lính. Địa bàn này còn quy tụ hàng vạn dân binh, nghĩa dõng tình nguyện tòng quân. Riêng mạng lưới hào mục và sĩ dân do Lê Đạo, Lê Phiên và Phan Trung bí mật liên kết đã chiêu mộ được 5.324 người, tăng khoảng 112% về quy mô tổ chức ngầm so với các ước tính thông thường trong lịch sử địa phương.

Thứ hai, tác phẩm làm sáng tỏ triều đình Tự Đức không hoàn toàn buông xuôi Nam Kỳ sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862 mà liên tục bí mật chi viện hỏa lực quy mô lớn. Châu bản triều Nguyễn ghi rõ triều đình đã thực hiện 6 đợt vận chuyển vũ khí từ kinh đô Huế vào Nam Kỳ qua đường biển, cung cấp tổng cộng 160 cỗ pháo (gồm 60 pháo Quá sơn và 100 pháo Thần công), 2.000 khẩu súng điểu sang, 26 vạn 1.920 viên đạn các loại, 1 vạn 2.000 cân bao đạn chì và 6.000 cân hỏa dược để trang bị cho các đồn bảo chống Pháp.

Thứ ba, nghiên cứu phục dựng hoàn chỉnh hệ thống căn cứ kháng chiến liên hoàn tại Đồng Tháp, tiêu biểu là căn cứ Ba Giồng, Gò Tháp của Võ Duy Dương và căn cứ Long Hưng Nước Xoáy, thành Bảo Tiền (Sa Đéc) của Nguyễn Công Nhàn. Các căn cứ này khai thác tối đa thế hiểm đầm lầy, đẩy lui hàng chục đợt tấn công càn quét của quân viễn chinh Pháp trang bị tàu chiến hiện đại.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên lý giải nguyên nhân phong trào chống Pháp tại Đồng Tháp duy trì được sức kháng cự bền bỉ suốt giai đoạn 1862 - 1867. Yếu tố quyết định là sự gắn kết chặt chẽ giữa tinh thần tự lực của nhân dân bản địa với sự hậu thuẫn bí mật từ quan lại trung thành với triều đình. Nhân dân các hạt đã tự nguyện đóng góp hơn 19.700 quan tiền và 4.900 phương lúa gạo để nuôi dưỡng nghĩa quân.

Khi so sánh với các tài liệu lịch sử trước đây vốn cho rằng Trương Định hay Võ Duy Dương hoàn toàn tự xưng chức vị và hoạt động độc lập, Châu bản triều Tự Đức khẳng định vua Tự Đức đã cử thị vệ Nguyễn Thi vào tận Nam Kỳ mật phong chức Chánh Đề đốc cho Võ Duy Dương và Bình Tây đại tướng quân cho Trương Định.

Dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô tả trực quan qua 2 hình thức trình bày học thuật:

  • Bảng đối chiếu hỏa lực và quân nhu: Thể hiện chi tiết 6 đợt vận chuyển vũ khí từ kho Kinh đô vào Bình Thuận, An Giang và Vĩnh Long.
  • Biểu đồ mạng lưới căn cứ đồn bảo: Phân bổ vị trí chiến lược của 18 thôn bắc sông Tiền và 44 xã thôn nam sông Tiền, minh họa rõ nét thế trận chiến tranh nhân dân bao vây quân xâm lược Pháp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy giá trị lịch sử và phục vụ công tác giáo dục truyền thống, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Số hóa toàn diện hệ thống tư liệu Hán - Nôm và Châu bản triều Nguyễn liên quan đến lịch sử chống Pháp vùng Tây Nam Bộ, đặt mục tiêu hoàn thành 100% việc lập danh mục tra cứu trực tuyến trong thời gian 12 tháng do Hội Khoa học Lịch sử tỉnh phối hợp Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thực hiện.
  2. Tích hợp từ 15 đến 20 tiết học lịch sử địa phương về căn cứ Gò Tháp, Ba Giồng và các nhân vật anh hùng như Võ Duy Dương, Nguyễn Công Nhàn vào khung chương trình giảng dạy THCS và THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong niên khóa 2024 - 2025 do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì.
  3. Quy hoạch bảo tồn, cắm mốc ranh giới và phục dựng mô hình sa bàn tại 3 di tích lịch sử trọng điểm gồm khu Bảo Tiền (thành phố Sa Đéc), phế tích thành cổ Lai Vung và căn cứ đầm lầy Gò Tháp trong giai đoạn 2024 - 2026 dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp.
  4. Xây dựng tuyến du lịch văn hóa - lịch sử chuyên đề mang tên "Hào khí Đồng Tháp Mười", liên kết các điểm di tích lịch sử kháng chiến thời Nguyễn, đặt mục tiêu thu hút khoảng 50.000 lượt khách tham quan học tập mỗi năm vào năm 2027 do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Du lịch địa phương triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị cao, phù hợp với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận - hiện đại: Sử dụng nguồn chứng cứ từ 18 tập Châu bản Tự Đức và tư liệu đối chiếu của Pháp để làm cơ sở khoa học cho các chuyên khảo về phong trào kháng chiến Nam Kỳ.
  2. Giảng viên đại học và giáo viên môn Lịch sử: Trích xuất các sự kiện, số liệu binh bị và lược đồ căn cứ để làm tư liệu trực quan, phục vụ soạn thảo giáo án giảng dạy lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.
  3. Cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Khai thác tài liệu khảo sát thực địa về thành Bảo Tiền, Bảo Hậu và phế tích Lai Vung để lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
  4. Học viên cao học và sinh viên ngành Sử học, Sư phạm Lịch sử: Tham khảo phương pháp tiếp cận đa chiều, cách thức xử lý văn bản Hán - Nôm kết hợp tài liệu dịch thuật phương Tây trong nghiên cứu sử học.

Câu hỏi thường gặp

Địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 1862 - 1867 thuộc phân cấp hành chính nào của triều Nguyễn?
Trong giai đoạn 1862 - 1867, địa bàn Đồng Tháp chưa thành lập tỉnh độc lập mà thuộc quyền quản lý của 2 tỉnh: huyện Kiến Đăng thuộc tỉnh Định Tường và các huyện Vĩnh An, Đông Xuyên thuộc tỉnh An Giang. Vùng đất này bao gồm 18 thôn phía bắc sông Tiền và 44 xã thôn phía nam sông Tiền.

Triều đình Huế có thực sự ngầm hỗ trợ vũ khí cho nghĩa quân Đồng Tháp sau Hòa ước 1862 không?
Có. Châu bản Tự Đức tập 133 và 177 chứng minh triều đình đã bí mật chuyển 6 đợt vũ khí lớn vào Nam Kỳ, gồm 160 cỗ pháo Quá sơn và Thần công, 2.000 khẩu điểu sang cùng hơn 26 vạn viên đạn chì, hỗ trợ đắc lực cho các căn cứ của Võ Duy Dương và Nguyễn Công Nhàn.

Điểm đặc sắc nhất trong nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Thiên hộ Võ Duy Dương tại Đồng Tháp Mười là gì?
Thiên hộ Võ Duy Dương đã triệt để lợi dụng địa hình đầm lầy, lau sậy rậm rạp và hệ thống kênh rạch tại Ba Giồng, Gò Tháp để lập phòng tuyến du kích liên hoàn. Nghĩa quân dùng thuyền nhỏ cơ động tập kích bất ngờ và bố trí đại bác ngụy trang trong lùm bụi khiến tàu chiến Pháp bị vô hiệu hóa hỏa lực.

Thành Bảo Tiền và Bảo Hậu có vai trò lịch sử như thế nào trong phong trào chống Pháp?
Hai tòa thành kiên cố được xây dựng tại Sa Đéc (Bảo Tiền) và Cần Thơ (Bảo Hậu) theo lệnh triều đình nhằm tồn trữ quân nhu, vũ khí dự phòng khẩn cấp. Nơi đây trở thành điểm tựa an toàn để tướng quân Nguyễn Công Nhàn và các lực lượng yêu nước tập hợp quân sĩ đánh trả các đợt càn quét của giặc.

Tinh thần đóng góp vật chất của nhân dân Đồng Tháp cho nghĩa quân được ghi nhận bằng số liệu nào?
Theo báo cáo mật của Phan Trung và Lê Phiên vào năm 1868, các tầng lớp nhân dân Nam Kỳ và địa bàn Đồng Tháp đã tự nguyện chiêu mộ 5.324 nghĩa binh, quyên góp hơn 19.700 quan tiền và 4.900 phương lúa gạo, khẳng định sức mạnh hậu cần vững chắc từ lòng dân đối với sự nghiệp cứu nước.

Kết luận

  • Luận văn tái hiện toàn diện và chân thực phong trào chống Pháp kiên cường của nhân dân Đồng Tháp giai đoạn 1862 - 1867 dưới sự lãnh đạo của Võ Duy Dương và Nguyễn Công Nhàn.
  • Khảo cứu làm sáng tỏ vai trò chỉ đạo bí mật và sự chi viện vũ khí quy mô lớn của triều đình Tự Đức qua nguồn sử liệu Châu bản quý báu.
  • Khẳng định nghệ thuật lập căn cứ đầm lầy và chiến thuật du kích tại Đồng Tháp Mười là đỉnh cao quân sự của phong trào kháng chiến Nam Bộ.
  • Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn xác gồm 18 tập Châu bản và 62 xã thôn địa bạ cổ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương.
  • Đề xuất lộ trình giai đoạn 2024 - 2027 nhằm số hóa tư liệu, tôn tạo di tích thành cổ và quảng bá di sản lịch sử đến thế hệ trẻ.

Để tiếp tục làm sâu sắc hơn những giá trị lịch sử vẻ vang của vùng đất Nam Bộ, bạn đọc và các nhà nghiên cứu hãy cùng khai thác, chia sẻ nguồn tư liệu quý giá này và tích cực tham gia vào các dự án bảo tồn di sản lịch sử địa phương ngay hôm nay.