Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA TT VHTTDL VỚI PGD- ĐT TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁC LỚP NĂNG KHIẾU TDTT CHO HỌC SINH 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Khoa học QL ở Việt Nam tuy được nghiên cứu chưa lâu, nhưng tư tưởng về QL cũng như “Phép trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Trong “Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. qua đó chúng ta cũng thấy rằng các ông vua hiền tài đất Việt từ xa xưa đã biết lấy dân làm gốc trong việc QL đất nước.
Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về khoa học QL của các nhà nghiên cứu và các giáo sư giảng dạy các trường đại học. viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm. đã được công bố. Đó là các tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Đặng Phạm Thành Nghị, Trần Quốc Thành, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân,.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã giải quyết được vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học quản lý: như khái niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, thành phần cấu trúc, chức năng quản lý, chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý. Cũng như đối với các ngành quản lý khác, QLGD luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm. Đặc biệt là trong sự nhận thức sâu sắc vai trò của GD đối với tương lai phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì điều này càng có ý nghĩa. Trong Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 ban hành theo Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 7/3/2012, nội dung Nghị quyết đã chỉ rõ: "Nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt là GD thể chất" [38].
Như vậy, dù trong bất cứ giai đoạn nào, hoàn cảnh nào, thể thao trường học luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Vấn đề về đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học môn thể chất cũng như là tổ chức các lớp năng khiếu TDTT 6 cho học sinh đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài ngành GD. Năm 1988, Vũ Đức Thu và cộng sự có đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và phát triển TDTT trong nhà trường các cấp. Năm 2001, tập thể nhiều tác giả dưới sự chủ trì của Viện Khoa học TDTT đã thực hiện thành công công trình nghiên cứu "Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi".
Năm 2006, tác giả Nguyễn Viết Minh đã có báo cáo khoa học về một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tập luyện môn thể thao tự chọn trong các nhà trường phổ thông, thuộc khu vực thành thị. Năm 2006, tác giả Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu đã có công trình nghiên cứu về định hướng chiến lược tăng cường sức khỏe học sinh trong nhà trường phổ thông các cấp đến năm 2010. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học đã đề cập đến nhiều mặt của giáo dục thể chất trường học và nâng cao sức khỏe cho HS, tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề thể thao trường học còn hạn chế về số lượng. Đặc biệt các loại hình đề tài mang tính chất chuyên biệt về công tác quản lý giáo dục thể chất, thể thao trường học hầu như rất ít tác giả đề cập đến.
Nghiên cứu công tác quản lý, phối hợp giữa TT VHTT&DL với PGD-ĐT trong công tác tổ chức các lớp năng khiếu TDTT cho học sinh huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ là bước tiếp tục làm phong phú thêm lý luận về quản lý giáo dục, đồng thời cũng góp phần đề ra được một số biện pháp có hiệu quả, thiết thực, đáp ứng được đòi hỏi của giáo dục huyện Thanh Thủy nói chung và giáo dục năng khiếu TDTT cho học sinh trên địa bàn huyện nói riêng; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo ra bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận trình độ thế giới, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập của đất nước. 7 Tuy nhiên, đề tài: “Phối hợp hoạt động giữa Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Phòng Giáo dục-Đào tạo trong việc tổ chức các lớp năng khiếu thể dục thể thao cho học sinh huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ” vẫn còn là một vấn đề mới, những công trình nghiên cứu một cách đầy đủ chỉ là từng mặt của vấn đề. Do đó, khi chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu từ ban đầu đã thấy khó khăn là có quá ít tài liệu để tham khảo. Hơn nữa khi nghiên cứu nó trong điều kiện TT VHTT&DL mới được thành lập, thời gian đi vào hoạt động mới được gần 2 năm, mọi điều kiện để tổ chức hoạt động chuyên môn của TT VHTT&DL còn nhiều bất cập.
Song với tư cách là một người có tâm huyết với sự nghiệp GD và TDTT, về lý luận cũng như thực tiễn đã hướng tới đi sâu nghiên cứu đề tài trên để thấm nhuần hơn vấn đề, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân và cho đồng nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo, phù hợp và hiệu quả. Các khái niệm cơ bản và thuật ngữ liên quan 1. Khái niệm về quản lý Hoạt động QL là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. - Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự QL, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung” [13].
- Theo Ômaror (Liên Xô): QL là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu.Taylor: QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất. QL là các 8 hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. - Theo Harold Koontz thì quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về QL. Đó là: - Theo Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kì: “QL là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động”. - Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QL nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. Tóm lại, có thể nói QL là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau.
Nhưng dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì theo chúng tôi, QL cũng là sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể QL lên đối tượng QL, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra. Khái niệm về tổ chức “Tổ chức” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, như triết học, y học nhân loại học, tâm lý học, kinh tế học… do đó đã có không ít những định nghĩa về "Tổ chức": - Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật.
9 - Tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó. - Tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức. - Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức). Để hiểu rõ khái niệm về tổ chức, cần chú ý một số điểm sau: - Tổ chức là của con người trong xã hội gắn với một hình thái kinh tế - xã hội và một kiểu nhà nước.
- Con người trong tổ chức gắn kết với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung. - Có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu xác định. - Được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật. - Tổ chức là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung.
Khái niệm về phối hợp Trong các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các LLGD trong công tác giáo dục học sinh, các tác giả đã dùng các khái niệm như: “hợp tác”, “kết hợp”, “thống nhất”, “liên kết”, “phối hợp”… Các từ này được từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ (2005) định nghĩa: - Hợp tác: là chung sức, trợ giúp qua lại với nhau. - Kết hợp: là gắn chặt với nhau để bổ sung cho nhau. - Thống nhất: là hợp lại thành một khối. 10 - Liên kết: là kết hợp nhiều thành phần, nhiều tổ chức để thực hiện.
- Phối hợp: là cùng hành động, hoạt động hỗ trợ lẫn nhau. Có thể định nghĩa “phối hợp” theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo các đối tượng phối hợp. Theo cách hiểu đơn giản nhất, phối hợp được ví như hoạt động có tổ chức của các nhóm để tạo ra một chuyển động có mục đích.