CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE CƠ SỞ 1. Tim hiéu vé phé binh sinh thai 1. Một số tiền dé của phê bình sinh thái ở phương Tây và tư tướng sinh thái ở phương Đông 1. Một số tiền đề của phê bình sinh thái ở phương Tây Theo phân lớn các công trình nghiên cứu về lý thuyết phê bình sinh thái được giới thiệu tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng từ “sink thai” (ecological) bắt nguồn từ từ Hy Lạp cô “oikos” (nơi ở) được hiệu là nhà ở, nơi cư trú của bất kì sinh vật nào.
Vẻ sau, lĩnh vực khoa học tự nhiên xuất hiện thuật ngữ “sinh thái học” (Ecology) do nhà sinh vật học người Đức Ernst Haeckel dé ra trong công trình Hình thai học sinh vat đại cương (Generelle Morphologie der Organismen). Đỗi tượng nghiên cứu của sinh thái học trước hết là môi trường sông của các sinh vật. Sinh thái học nghiên cứu mối quan hệ giữa các sinh vật trong tự nhiên và môi trường cùng các điều kiện cần thiết cho sự sống của chúng. Sinh thái học giúp chúng ta có những nhìn nhận chính xác, khoa học về sự tác động lẫn nhau giữa các sinh vật và môi trường.
Với những kết quả đạt được. sinh thái học đặt ra những nguyên tắc trong việc định hướng các hoạt động của con người đến tự nhiên. Sự xuất hiện của chuyên ngành này là cơ sở khoa học cụ thé cho thấy tác động của các sinh vật với nhau và tác động của những nhân tố tự nhiên khác trong môi trường tạo nên thực trạng môi trường ngày nay mà chúng ta nhìn thấy. Xét trên lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
tiền đề trước hết của phê bình sinh thái phải kế đến đó là ý thức sinh thái (Ecological consciousness) ra đời vào những năm cuối thé ki XIX đầu thé ki XX. Sự phát triển của chủ nghĩa nhân van dé cao giá trị con người hay chủ nghĩa tiêu dùng tận diệt tự nhiên đã khiến cho nhân loại ngày càng phải đối mặt với những nguy cơ sinh thái nghiêm trọng. Cho đến thế ki thứ XX, khi con người phải gánh chịu những hiện tượng cực đoan từ môi trường như thiên tai, sự cạn kiệt tài nguyên cũng là lúc mả con người quan tâm và nhận ra cần phải cải tạo ý thức sinh thai của chính mình. Nói một cách khái quát ý thức sinh thai “Ja sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên (Các yếu tổ của tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí, vai trò của con người trong mỗi quan hệ với tự nhiên và về trách.
“ ‘ nhiệm, nghĩa vụ của con người trong việc điều khién mot cách có ý thức moi quan hệ do 15 hướng đến mục tiêu phát triển bên vững của xã hội và sự đồng tiễn hóa giữa xã hội và tự nhiên "!, Như vậy, ý thức sinh thái tập trung nghiên cứu việc con người cần có những ứng xử ra sao trước tự nhiên. Chủ trương của ý thức sinh thái đó là tác động đến nhận thức của con người về việc cần xem tự nhiên là một chủ thê bình đăng với mình và chính vì thé mà tự nhiên cũng cần được sự bảo vệ, tôn trọng. Văn học với tư cách là một lĩnh vực của khoa học xã hội cùng với những đặc trưng cơ bản luôn là một phương thức thuận lợi, có sức truyền tải lớn cho những nội dung của ý thức sinh thái. Tiếp đến, ta phải nhắc đến triết học sinh thái.
Với tư cách là một phân nhánh của triết học ứng dụng, triết học sinh thái (Ecological philosophy) “là triết học về sự hài hòa và cân bằng sinh thái” (Nguyễn Thị Tinh Thy, 2017), Những nghiên cứu về triết học sinh thái được đề ra bởi nhà Triết học người Na Uy Arne Dekke Eide Naess và triết gia phân tâm học người Pháp Pierre - Félix Guattari vào năm 1974. Nội dung của triết học sinh thái đó là việc: “Sinh thái trong triết học theo nghĩa rộng là coi nhân loại vớt tự nhiên là một, như là một phan không thể thiểu trong quá trình tiễn hóa của vũ trụ này. Triết học sinh thái quan niệm rằng , mọi sự vật trong thể giới tự nhiên không tôn tại độc lập mà đêu có quan hệ móc xích với nhau, môi trường sông là kết cấu hữu cơ giữa các sự vật tạo thành "!Š, Như vậy, triết học sinh thái đã khăng định tính biện chứng giữa các yếu tô cau thành nên môi trường. Cùng với ý thức sinh thái, triết học sinh thái đã thẻ hiện tư duy bắt kịp thời đại của con người vẻ tác động của môi trường tự nhiên đến đời sống con người.
Tóm lại, kết luận của triết học sinh thái đó là: Môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa, văn minh nhân loại của con người và ngược lại con người cũng có những tác động đến thực trạng môi trưởng tự nhiên. Từ những thành quả của ý thức sinh thái, triết học sinh thái, bác sĩ, nhà triết học, than học người Dức Albert Schweitzer (1875 — 1965) đã dé ra hệ thống triết học cho ! Phạm Thi Ngọc Tram, "Xây dung dao đức sinh thái — một trách nhiệm xã hội của con người dối với tự nhiên”, Tạp chí Triét học. số ngay 11 tháng 10 năm 2016. Link: http://philosophy.vn/KHCN- MT/Xa ~dung-dao-duc-sinh-thai-meot-trach-nhiem-xa-hoi-cua-con-nguoi-doi-voi-tu-nhien-4 Í .1% Nouyén Thị Tinh Thy (2017), Rừng khô, suối cạn, biển độc.
và Van chương, Nxb Khoa học và xã hội. 16 luân lý học tôn trọng sinh mệnh (The ethics of reverence for life). Luân lý học tôn trọng sinh mệnh như một sự đáp lại cho chủ nghĩa nhân loại trung tâm, thúc đây mỗi quan hệ hài hòa giữa con người và mọi sinh vật trên trái đất. Nội dung của luận lý này cho rằng, cũng như con người.
vạn vật von di đều có sinh mệnh, đều bình đẳng. Con người với tư cách là sinh vật cao nhất cần phải ứng xử tôn trọng tự nhiên, không làm hại tự nhiên và quý trọng sự sống của từng sinh vật dù là nhỏ bé nhất. Bên cạnh đó, luân lý học tôn trọng sinh mệnh cũng chỉ ra mối quan hệ cộng sinh giữa con người và môi trường cùng các loài sinh vật khác. Về sau, tư tưởng của Albert Schweitzer được đón nhận mạnh mẽ trong những phong trào xanh hay luân lý học sinh thái.
Có thé thay luân lý học tôn trọng sinh mệnh là một bước nghiên cứu tiếp nói, làm cụ thé lý thuyết ý thức sinh thái, triết học sinh thái khi đã chỉ ra rõ hơn về việc định vị như thế nào cho mỗi quan hệ giữa con người và môi trường sinh thái. Tắt cả đều gói gọn trong sự tôn trọng. Bên cạnh những tiền đề trên. ở phương Tây còn có: Thuyết giải phóng động vật, chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, luân lý học sinh thái, sinh thái học bê sâu.
Nhìn chung, nội dung của những tiền đề nay xoay quanh quan điểm: Tự nhiên là trung tâm, con người phải xem trọng tự nhiên và chung sống hài hòa với tự nhiên. Những nghiên cứu vẻ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên chính là tiền đề của phê bình sinh thái trong văn học. về sau, phê bình sinh thái trong văn học chủ trương việc văn học không đứng ngoài chức năng định hướng ý thức, quan niệm con người vẻ tự nhiên. văn học với những đặc trưng cơ bản có kha năng cải tạo cho mỗi quan hệ giữa con người và tự nhiên trở nên hài hòa.
Tư tưởng sinh thái ở phương Đông Mỗi bận tâm về môi trường không phải chỉ xuất hiện ở phương Tây khi tinh trạng môi trường trở nên báo động, ở phương Dông ngay từ rất sớm đã hình thành những tư tưởng sinh thái nhất định. Gọi là tư tưởng bởi lẽ thực tế người phương Đông không gọi cách nghĩ của họ về con người và môi trường tự nhiên bằng một tên gọi khoa học hay một lí thuyết cụ thê nào. Với khí hậu ôn hòa, điều kiện tự nhiên nhiều thuận lợi hon phương Tây, con người ở phương Đông từ lâu đã có đời sống gắn bó sâu sắc và chan hòa với tự nhiên. Thế nên, những phát biéu về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở đây không nằm ở những phong trào về môi trường mà nằm trong hệ thông luận lý đạo 1? đức xã hội của các triết gia, trong những phát biêu của tín ngưỡng, tôn giáo.
Có thẻ diém qua một vài những học thuyết tiêu biểu sau đây: a) Tiêu diéu du và Té vat luận trong Nam Hoa kinh của Trang Tw Nhìn về phương Đông ma cụ thé là Trung Quốc với học thuyết Trang Tử. ở chương Tiêu điêu du và Té vật luận trong Nam Hoa kinh, Trang Tử đã nói về sự tự do của con người và bình đăng giữa ta (con người) và vạn vật. Trước hết, tiêu điêu được hiểu là tự do ở đời. Phàm con người có thé tiêu diêu, thong tha, tự do là khi con người biết vui sông với tinh phận của mình.
sống theo mình. Nguyễn Duy Can đã có những đúc kết cho Tiêu Diêu du của Trang Tử như sau: “Tiéu Diệu du, tức là “tự do tuyệt doi”. Người ma được tu do tuyệt doi là kẻ đã huyền đồng cùng Tạo hóa, diét mat ban ngã. cho nên moi “thuận theo được cdi tự nhiên của trời đất, nương theo cải biển của luc khí mà qua lại trong cối vỏ cing”, không bị mot may may gi trói buộc nữa cá ”''.
Trang Từ nêu tinh than thuận theo tự nhiên, không cưỡng cau, trói buộc, không làm gì trái tự nhiên thi con người sẽ được tự do tuyệt đối. Muốn được như thé con người phải biết diệt ban ngã của minh di mà chỉ giữ lại cái gốc của mình. Diệt ban ngã di mà thuận theo cái tanh của vạn vật như: “Chim Bang, cao la sở năng của nó; chim cưu, thấp là sở năng của nó; tai nam mai, sống trong một han rat ngắn ngủi của thời gian là sở năng của nó. Bay nhiêu cái đó đêu là “sở năng ” của tự nhiên, không phải “sở năng” của sự làm của mình "22, Sông thuận tự nhiên là tôn trọng “sở nang” ay của vạn vật.
Cũng chính vì tôn trọng sở năng của vạn vật. thế nên Trang Tử chủ trương không nên phân chia lớn nhỏ bởi lớn nhỏ tùy chỗ mà hợp, lớn thấy mình hợp chỗ lớn không thấy mình lớn. nhỏ hợp chỗ nhỏ nên không thấy mình nhỏ. Tương tự, sự phân chia thọ hay yếu cũng vậy, Trang Tử đưa ra hình anh vẻ tuổi thọ của ông Banh Tỏ là 700 năm, nhưng con người néu ai cũng sống như ông Banh Tổ thì 700 năm kia có còn là thọ? Lớn nhỏ, thọ yếu và ké cả hữu dụng.
vô dụng cũng vậy.