CHƯƠNG 1 PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH TÌM VỀ TỰ NHIÊN TRONG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI CỦA TRẦN ĐỨC TIẾN VÀ TRẦN BẢO ĐỊNH Trong khi rất nhiều sinh vật trên trái đất đang gánh chịu thảm họa biến đổi khí hậu thì biển đang chết, suối đang cạn, sa mạc đang hình thành, rừng nguyên sinh không thể phục hồi, thiên nhiên cuồng nộ. Con người vẫn thờ ơ, các công ty mọc lên như nấm sau mưa. Đô thị rộng, đời hẹp… Thế giới tự nhiên đang bị phá hủy từng ngày. Một tương lai sinh thái bấp bênh, thậm chí có thể bị diệt vong nếu con người không hành động nhanh để cứu lấy môi sinh.
Đó là tất cả những gì có thể diễn tả khi nhắc đến thế kỷ XXI – thế kỷ của khoa học công nghệ, trí tuệ và sự mong manh của mọi sinh mệnh. Thiên nhiên có thể trả thù bằng sự biến mất của chính nó kéo theo sự biến mất của hàng loạt động - thực vật trên thế giới, bao gồm cả con người. Đến mức khi nhận xét về tương lai nhân loại, tùy bút “Sound of Hope” của Mạc Ngôn do Minh Tâm dịch có đoạn: “Phàm mọi việc đều có giới hạn, một khi vượt quá, tất sẽ bị trừng phạt, đây là triết lý nhân sinh giản dị mộc mạc, cũng là quy luật của rất nhiều sự vật trong tự nhiên.” Mạc Ngôn cho rằng: “Nhân loại đang điên cuồng bóc lột trái đất” để lại “Địa cầu bốn bề lửa khói, toàn thân run rẩy, biển cả kêu gào, cát bụi bay khắp nơi, hạn hán lũ lụt, bệnh tật lan tràn…”, “sự phát triển bệnh hoạn của khoa học dưới sự kích phát của tiền bạc, tham vọng và quyền lực đã làm cho cuộc sống của nhân loại mất mát quá nhiều cảm nhận thú vị và đối mặt với đầy rẫy nguy cơ.”, “Vật chất cơ bản nhất để duy trì sinh mạng của nhân loại là không khí, ánh sáng mặt trời, thực vật và nước, những thứ khác đều là xa xỉ phẩm. Những ngày tháng tốt đẹp của nhân loại không còn nhiều nữa”.
Vậy thì, sự tổn thương nghiêm trọng của tự nhiên thuộc về trách nhiệm của con người – nhân tố chính gây ra khủng hoảng môi sinh, đã hối thúc các nhà nghiên cứu tìm cách cứu lấy môi sinh. Các nhà văn cũng không ngoại lệ, họ phải “nhập thế” hành động quyết liệt để đáp lời thời cuộc. Vì thế, trong giới 17 hạn đề tài và giới hạn chương, chúng tôi tập trung làm rõ vài nét về phê bình sinh thái và hành trình tìm về tự nhiên trong truyện đồng thoại của Trần Đức Tiến và Trần Bảo Định. Phê bình sinh thái - một hướng tiếp cận mới trong văn học Việt Nam hiện nay 1.
Sơ lược về phê bình sinh thái Phê bình sinh thái (Ecocriticism) ra đời như một sự phản ứng lại tư tưởng truyền thống “nhân loại trung tâm luận”, một tư tưởng mang nặng niềm tin về khả năng thống trị của con người đối với thế giới tự nhiên, xem nhẹ tự nhiên. Tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” này xuất hiện từ thế kỷ XVIII – XIX do sự phát triển quá nhanh của khoa học công nghệ nên con người trở nên ảo tưởng sức mạnh chính mình, tự cho mình là “chúa tể muôn loài”. Chính vì thế, thời kỳ này đã đặt nền móng cho sự tàn phá môi trường vì mục đích kinh tế và sự thống trị của Chủ nghĩa Hiện đại (Modernism) làm con người quên mất thế đứng bình đẳng trong giới tự nhiên. Cuối thập niên 70 của thế kỉ XX, thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocritisim) xuất hiện, William Rueckert đã sử dụng trong tiểu luận Văn học và sinh thái: một thử nghiệm trong phê bình sinh thái vào năm 1978.
Mục đích chính của William Rueckert là ứng dụng sinh thái học vào việc nghiên cứu văn học. Mãi đến những năm 90 của thế kỷ XX, trước sự đối mặt với nguy cơ sinh thái, vấn đề được lật lại, các nhà nghiên cứu bắt đầu chú trọng nhiều hơn đến vấn đề đô thị hóa, duy trì sinh thái để bảo vệ môi trường. Trong cuốn sách Phê bình sinh thái là gì? có bài viết Phê bình sinh thái trong bối cảnh khủng hoảng môi trường sinh thái toàn cầu do Hoàng Tố Mai chủ biên chỉ ra: “Phê bình sinh thái luôn tìm cách phục hồi lại ý nghĩa đích thực của thế giới vượt ra ngoài giới hạn của trang sách. Họ quan tâm đến việc định giá lại thế giới tự nhiên” (Hoàng Tố Mai, 2017).
Phê bình sinh thái còn nổi lên với hi vọng gìn giữ và khôi phục phần nào “mạch máu sinh tồn” của tự nhiên đã và đang bị con người hủy hoại. Đối với văn học, phê bình sinh thái là một phần bản thể của văn học nhưng vẫn được coi như một ngành khoa học trẻ mang tính liên ngành, có mối liên hệ chặt chẽ với các ngành khác như: văn hóa, nghệ thuật, điêu khắc, hội họa, điện ảnh. Karl Kroeber luận: “Phê bình sinh thái không phải 18 đem phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương pháp nghiên cứu của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học. Nó chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi”.
Nghĩa là dựa vào khả năng phục thiện và cảm hóa nhân loại, văn học hoàn toàn có thể làm tốt việc dẫn nhập quan niệm cơ bản của triết học sinh thái theo hướng hợp lý nhất, làm cơ sở cho phê bình sinh thái tránh được quan niệm cực đoan, tiến tới xác lập quan niệm thống nhất giữa lợi ích của con người và lợi ích của chỉnh thể sinh thái, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Trong bài viết Tính khả dụng của Phê bình sinh thái, Đỗ Văn Hiểu có trích dẫn của một nhà nghiên cứu Trung Quốc khi định hướng nghiên cứu mỹ học sinh thái ở quốc gia này: “Chỉ có sự cộng sinh giữa con người và tự nhiên mới là con đường có thể đi. Chính trong tình huống đó đã xuất hiện “hình thái lí luận sinh thái phù hợp hơn với quy luật phát triển xã hội như “chủ nghĩa nhân văn sinh thái” và “chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái”…, trở thành cơ sở lí luận của mĩ học sinh thái đương đại” (đăng trên trang https://dovanhieu.com/2016/09/15/tinh-kha-dung-cua-phe-binh-sinh-thai/). Trích đoạn trên cũng là một minh chứng cho bản chất mỹ học sinh thái, vốn là một dây chuyền cộng sinh cùng tồn tại giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ này đồng đẳng và có tính chất hai chiều.
Chẳng hạn như: Con người sống trong một thể chế chính trị (A), thể chế này quy định phần nào tư tưởng văn hóa (B) dẫn đến định hình tính cách, nhân sinh quan. của con người đối với tự nhiên(C). Tự nhiên lại đáp trả con người theo quy luật nhân quả (D). Tuy nhiên, khi (D) tăng hệ số trừng phạt làm ảnh hưởng tới sự phát triển xã hội (A) thì cả (B), (C) đều buộc phải thay đổi sao cho phù hợp với thực tiễn.
Cả con người và tự nhiên đều không thể chiếm hữu lợi ích một chiều. Nếu mất cân bằng trong mối quan hệ này, tất cả đều biến mất. Suy cho cùng, bản chất mỹ học sinh thái vẫn là hướng đến sự sống, hướng đến lợi ích của tất cả chúng sinh trong mối quan hệ tương hỗ cùng nhau tồn tại. Phê bình sinh thái cũng như nhiều trào lưu phê bình khác trên thế giới, nó diễn ra theo tuần tự nên nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành phân kỳ cho phê bình sinh thái.
19 Nguyễn Thị Tịnh Thy đã giới thiệu cách phân kì của hai nhà nghiên cứu nổi tiếng thế giới là Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell, đồng thời, cũng nêu ra cách phân kỳ của riêng mình trong cuốn Rừng khô, suối cạn, biển độc. và văn chương. Căn cứ vào nội dung, tính hợp lý và bất hợp lý trong cách phân kỳ phê bình sinh thái của Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã chia phê bình sinh thái thành ba giai đoạn phát triển: Giai đoạn 1(1972 – 1990) là giai đoạn hình thành: Đây được xem giai đoạn tiền đề với sự xuất hiện rải rác của các tác phẩm vào cuối những năm 1960 đến 1970 nhưng chưa trở thành một phong trào thống nhất, chưa có nhiều thành tựu. Giai đoạn 2 (1991 -2007) là giai đoạn phát triển: Đây là giai đoạn cho thấy sự lan tỏa của phê bình sinh thái trên thế giới, thông qua việc các nhà nghiên cứu thành lập các tổ chức phê bình sinh thái như: Hội ngôn ngữ học hiện đại Mỹ (1991), Hội nghiên cứu văn học và môi trường (Association for the Study of Literature and Environment, viết tắt là ASLE)(1992), và Tạp chí Nghiên cứu liên ngành Văn học và Môi trường ra đời năm 1993, đã tạo điều kiện cho phê bình sinh thái phát triển ngày càng mạnh mẽ.
Giai đoạn 3 (2008 – nay) là giai đoạn chuyển hướng: Đây là giai đoạn phê bình sinh thái đặt ra các vấn đề đạo đức sinh thái, trách nhiệm sinh thái, phạm vi nghiên cứu sinh thái trong văn học trước nguy cơ sinh thái. Các vấn đề lý tưởng sinh thái, học thuật sinh thái, trách nhiệm sinh thái cũng được nhắc đến trong cuốn sách Đi xa để nghĩ: Nhập thế, xuất thế và trách nhiệm của phê bình sinh thái của Scott Slovic, xuất bản năm 2008. Ngoài ra, giai đoạn này phê bình sinh thái còn được nghiên cứu trong văn học người Mĩ gốc Phi với các công trình tiêu biểu như Màu đen trên trái đất: Truyền thống văn học sinh thái của người Mỹ gốc Phi của N.Ruffin, Những khám phá phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học và văn hóa của Patrick D. Cuốn sách Sinh thái hậu thực dân: Văn học và môi trường do Elizabeth Deloughrey và B.
Handley chủ biên đều quan tâm đến phê bình sinh thái với góc nhìn văn hóa và hậu thực dân. Tại không gian châu Á, công trình Sự mơ hồ sinh thái: khủng hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á của Karen Thronber đã tìm đến không gian Đông Á và đưa ra quan niệm mới về phê bình 20 sinh thái. Tại Nhật Bản, Trung Quốc, phê bình sinh thái phát triển khá hưng thịnh. Sự hưng thịnh này được đánh dấu kể từ khi Nhật Bản thành lập Hội nghiên cứu văn học và môi trường Nhật Bản năm 1994 và tại Trung Quốc thì liên tục công bố các công trình nghiên cứu của mình như: Lịch sử phê bình sinh thái phương Tây (Hồ Chí Hùng), Thế nào là phê bình sinh thái trong văn học (Trần Tiểu Hồng), chuyên luận Phê bình sinh thái và tư tưởng phê bình sinh thái (Vương Nặc).