Chương 1 THỰC CHẤT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT PHÁT TRIỂN Ý THỨC BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH THANH HÓA 1. Thực chất phát triển ý thức bảo vệ biên giới quốc gia của Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa 1.1 Ý thức bảo vệ biên giới quốc gia của Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa * Quan niệm về bảo vệ biên giới quốc gia của Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa: Quốc gia là thực thể pháp lí gồm 3 yếu tố cấu thành: lãnh thổ, dân cư và quyền lực công cộng. Quốc gia là chủ thể căn bản nhất của luật quốc tế. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia.
Theo luật pháp quốc tế hiện đại, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền Biên giới là nơi tiếp giáp giữa hai nước. Mọi diễn biến tình hình về kinh tế, chính trị của nước này đều tác động đến khu vực biên giới của nước khác. Do đó, các quốc gia có chủ quyền đều cần phải có chiến lược toàn diện với những giải pháp đồng bộ (cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.) để xây dựng và bảo vệ biên giới, chủ động đối phó với các tình huống có thể xảy ra. “Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [3, tr.
Lãnh thổ quốc gia là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia. Lãnh thổ quốc gia Việt Nam bao gồm: vùng đất quốc gia, 10 vùng biển quốc gia (nội thuỷ và lãnh hải), vùng trời quốc gia, ngoài ra còn gồm lãnh thổ quốc gia đặc biệt. Biên giới quốc gia chính là đường và mặt phẳng đứng phân cách lãnh thổ của quốc gia này với một quốc gia khác. Nó là giới hạn lãnh thổ và giới hạn hiệu lực chủ quyền quốc gia, biên giới quốc gia bao gồm: đường biên giới trên đất liền, đường biên giới trên biển, đường biên giới trong lòng đất, trong lòng nước và cả trên không.
Biên giới quốc gia cố định và được đánh dấu bằng các mốc (cọc trên đất, phao trên nước.) Mục tiêu bảo vệ biên giới quốc gia: xây dựng và giữ vững biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng; mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác quốc tế và khu vực, tạo ra môi trường ổn định để hội nhập và phát triển bền vững trong khu vực biên phòng, thường xuyên bảo vệ biên giới quốc gia liên tục về không gian và thời gian; tích cực phòng ngừa, chủ động ngăn chặn và kiên quyết trừng trị mọi hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, an ninh chính trị của các lực lượng thù địch và bọn tội phạm trong và ngoài nước; chủ động đối phó với các tình huống xung đột biên giới, tranh chấp lấn chiếm biên giới và mọi hành động xâm phạm, phá hoại khác. Nội dung bảo vệ biên giới quốc gia: bao gồm về nhiều mặt, trong đó có chủ quyền quốc gia về lãnh thổ. Chủ quyền về lãnh thổ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại của quốc gia, sự phát triển của đất nước và lợi ích của dân tộc. Do vậy, đòi hỏi phải có đường biên và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền ấy.
Bảo vệ biên giới quốc gia, trước hết nhằm bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời góp phần thực hiện đầy đủ các mặt khác của chủ quyền quốc gia. Bảo vệ biên giới quốc gia là một công tác vừa có tính chất đối nội, vừa có tính chất đối ngoại. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Bảo vệ biên giới quốc gia phải tuân thủ các điều ước quốc tế, pháp luật 11 của Nhà nước, quy chế về khu vực biên giới của Chính phủ và hệ thống điều lệnh, điều lệ quy định.
Nội dung bảo vệ biên giới quốc gia hiện nay thể hiện một cách toàn diện trên các mặt: bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên, môi sinh, môi trường trên khu vực biên giới, chống lại sự xâm phạm dưới mọi hình thức; bảo vệ tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị khác ở các xã biên giới; đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh, giữ vững sự yên ổn về chính trị, sự tin tưởng, vững vàng, nhất trí về chính trị, tinh thần trong nhân dân, không để xảy ra rối ren, bạo loạn, lật đổ; bảo vệ sự yên ổn, lành mạnh của hệ thống các quan hệ xã hội ở khu vực biên giới, giữ vững pháp luật, đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng dân tộc; bảo vệ tài sản tính mạng của nhân dân, đảm bảo cho mọi công dân có cuộc sống yên ấm, lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được đảm bảo, không bi xâm hại; bảo vệ cơ sở kinh tế, văn hoá ở khu vực biên giới để giữ vững sự ổn định và phát triển; bảo vệ và giữ gìn các quan hệ hữu nghị thân thiện giữa chính quyền và nhân dân hai bên biên giới, góp phần tạo ra môi trường hoà bình, ổn định cho đất nước để xây dựng và phát triển. Tính chất nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia đã được Bộ Chính trị xác định rõ: “Nhiệm vụ biên phòng trong tình hình mới rất toàn diện và phức tạp, bao gồm: bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, chống xâm nhập trái phép và buôn lậu qua biên giới, bảo vệ tài nguyên của đất nước, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác phát triển với các nước láng giềng” [31, tr. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia, Bộ đội Biên phòng phải phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng, phương tiện; dựa chắc vào cấp uỷ, chính quyền địa phương; gắn bó máu thịt với nhân dân; đấu tranh làm thất bại âm mưu hoạt động phá hoại 12 của địch và các loại đối tượng. Trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh phải luôn luôn giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, trật tự kỷ cương khu vực biên giới, tạo thế ổn định xây dựng, phát triển biên giới quốc gia cả về kinh tế, chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng, giữ vững thế trận lòng dân, góp phần tạo nền tảng sức mạnh bảo vệ biên giới quốc gia nói riêng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung.
Bảo vệ biên giới quốc gia phải giữ vững lòng dân và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc trong khu vực biên phòng. Xây dựng thế trận biên phòng toàn dân. Tích cực tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế – xã hội tạo ra sức mạnh tổng hợp giữ vững biên giới quốc gia. Phương thức tiến hành bảo vệ biên giới quốc gia: sử dụng các lực lượng, các phương tiện nghiệp vụ công tác… sẵn sàng chống lại sự xâm phạm, phá hoại của địch và các đối tượng dưới mội hình thức vũ trang hoặc phi vũ trang và thông qua các hình thức, biện pháp công tác tư tưởng, công tác tổ chức như: giáo dục lý luận chính trị, giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức; công tác tuyên truyền - thi đua; công tác văn hoá văn nghệ quần chúng; hoạt động dân vận… Với các hình thức phong phú như: giảng bài chính trị, sinh hoạt chính trị, nghiên cứu chuyên đề, ngày chính trị và văn hoá tinh thần, nói chuyện thời sự, kể chuyện truyền thống, các hội thi, hội thao, các phong trào thi đua, các cuộc vận động, v.
Sử dụng linh hoạt các biện pháp giáo dục thuyết phục, nêu gương, xây dựng điển hình; kết hợp chặt chẽ giáo dục thuyết phục với quản lý theo chức trách, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường rèn luyện kỷ luật nhằm đề cao tính chủ động, tích cực, tự giác sáng tạo trong quá trình thực hiện nội dung, yêu cầu trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới của cán bộ, hạ sĩ quan, binh sĩ. Tuy nhiên, cần 13 căn cứ vào tình hình cụ thể mà vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp cho phù hợp với tính chất, đặc điểm nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia, bảo đảm đạt kết quả cao, đúng định hướng chính trị. Lực lượng bảo vệ biên giới quốc gia: bao gồm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Bảo vệ biên giới quốc gia là để thực hiện trước hết và trực tiếp việc đảm bảo chủ quyền quốc gia về lãnh thổ, do đó góp phần thực hiện tốt và đầy đủ chủ quyền quốc gia nói chung.
Theo Từ điển Biên phòng: “Bảo vệ biên giới quốc gia là sử dụng lực lượng, phương tiện, các biện pháp giữ gìn biên giới quốc gia nhằm bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ tài nguyên, môi trường, môi sinh, lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới” [3, tr. Như vậy, bảo vệ biên giới quốc gia là bảo vệ quyền tối cao của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với mọi vấn đề trong phạm vi lãnh thổ khu vực biên giới, vùng biển của quốc gia, duy trì giữ gìn đường biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển - đảo (giữ gìn cột mốc biên giới, dấu hiệu đường biên giới, các công trình có liên quan đến an ninh biên giới quốc gia), giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới.