Tổng quan nghiên cứu

Năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam đạt mức 4.260,0 triệu USD, tăng trưởng 107,2% so với con số 3.972,4 triệu USD của năm 2004. Mặc dù khu vực dịch vụ đóng góp hơn 40% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu hút khoảng 24,5% tổng lực lượng lao động xã hội (tương đương 9,4 triệu lao động), hoạt động xuất khẩu dịch vụ vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng thực tế. Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006, việc chuyển dịch chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang định hướng đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ trở thành một đòi hỏi cấp bách.

Luận văn tập trung giải quyết vấn đề thiếu hụt cơ sở lý luận và thực tiễn về thương mại dịch vụ quốc tế tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là làm rõ hệ thống khái niệm, phân loại chuẩn mực theo thông lệ quốc tế; đánh giá khách quan thực trạng xuất khẩu của các ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, hàng không, du lịch, tài chính và bảo hiểm giai đoạn 2000-2005; đồng thời chỉ ra những rào cản nội tại kìm hãm năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ bức tranh thương mại dịch vụ Việt Nam trong mối tương quan so sánh với khu vực ASEAN và các nền kinh tế phát triển. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp cơ sở dữ liệu và định hướng khoa học để hoàn thiện Đề án phát triển xuất khẩu dịch vụ giai đoạn 2006-2010, hướng tới mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 16,3%/năm và chạm mốc kim ngạch 12 tỷ USD vào năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về sự phát triển của kinh tế hàng hóa, khẳng định dịch vụ là kết quả tất yếu của quá trình phân công lao động xã hội sâu sắc, có khả năng tạo ra giá trị thặng dư thông qua việc khai thác hàm lượng tri thức và sức lao động. Khung phân tích thương mại dịch vụ quốc tế được xây dựng dựa trên Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO với 4 phương thức cung cấp chủ đạo:

  • Phương thức 1 (Mode 1 - Cung cấp qua biên giới): Dịch vụ di chuyển xuyên quốc gia từ lãnh thổ nước này sang nước khác.
  • Phương thức 2 (Mode 2 - Tiêu dùng ở nước ngoài): Người tiêu dùng di chuyển sang lãnh thổ quốc gia khác để thụ hưởng dịch vụ.
  • Phương thức 3 (Mode 3 - Hiện diện thương mại): Doanh nghiệp thiết lập chi nhánh hoặc cơ sở kinh doanh tại nước ngoài.
  • Phương thức 4 (Mode 4 - Hiện diện của thể nhân): Thể nhân di chuyển tạm thời sang nước khác để cung cấp dịch vụ chuyên môn.

Hệ thống phân loại trong nghiên cứu tích hợp các chuẩn mực quốc tế bao gồm Hệ thống phân loại ngành chuẩn quốc tế (ISIC) với 138 hoạt động dịch vụ cấp 4 chữ số, Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) gồm 5 nhóm sản phẩm dịch vụ, và Sổ tay Cán cân thanh toán lần thứ 5 (BPM5) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Các khái niệm then chốt như đơn vị thường trú, trung tâm lợi ích kinh tế, lãnh thổ kinh tế và tính chất vô hình không thể lưu trữ của dịch vụ được chuẩn hóa nhằm phục vụ việc tính toán trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA 1993).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chính thống thu thập từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Hàng không Dân dụng và Tổng cục Du lịch trong mốc thời gian từ năm 2000 đến năm 2005. Mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ các đơn vị kinh doanh dịch vụ trọng điểm trên toàn quốc, bao gồm 1.084 tàu vận tải biển, 24 hệ thống cảng biển với 266 cầu cảng, cùng các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm trên 85% thị phần phi nhân thọ.

Phương pháp chọn mẫu toàn diện kết hợp phân tổ thống kê được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho 11 nhóm ngành dịch vụ thuộc Danh mục Cán cân thanh toán mở rộng (EBOPS). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phương pháp so sánh chuỗi thời gian là để bóc tách rõ rệt sự thay đổi cơ cấu kim ngạch xuất nhập khẩu, đánh giá chính xác mức độ tăng trưởng của từng phân ngành trước thềm hội nhập, từ đó đưa ra những nhận định khách quan dựa trên số liệu thực chứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2004-2005 cho thấy kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam có sự bứt phá mạnh mẽ ở một số phân ngành nhưng phân bổ còn thiếu cân đối:

  • Ngành du lịch tiếp tục giữ vai trò trụ cột với kim ngạch xuất khẩu đạt 1.300,0 triệu USD năm 2005, tăng 17,9% so với mức 1.102,0 triệu USD năm 2004, đón 3,47 triệu lượt khách quốc tế (tăng 18,4% so với năm trước).
  • Vận tải hàng không ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu xuất khẩu vượt bậc, đạt 657,0 triệu USD năm 2005, tăng 37,8% so với mức 476,9 triệu USD năm 2004, duy trì tốc độ tăng trưởng khối lượng luân chuyển hành khách quốc tế bình quân 19,42%/năm giai đoạn 2001-2005.
  • Vận tải biển đạt kim ngạch 510,0 triệu USD năm 2005 (tăng 79,9% so với năm 2004), sở hữu đội tàu 1.084 chiếc với tổng trọng tải 3.489.000 DWT, đứng thứ 4 trong khối ASEAN; tuy nhiên đội tàu nội địa mới chỉ đáp ứng được khoảng 14% đến 15% thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước.
  • Dịch vụ tài chính và bảo hiểm có quy mô xuất khẩu còn khiêm tốn; năm 2005 kim ngạch tài chính đạt 220,0 triệu USD và bảo hiểm đạt 45,0 triệu USD, dù thị trường bảo hiểm nhân thọ nội địa từng ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu ấn tượng đạt 2.800 tỷ đồng (tương đương 0,55% GDP) ngay từ năm 2001.

Thảo luận kết quả

Thực trạng đội tàu biển chỉ đảm nhận 14% đến 15% khối lượng chuyên chở xuất nhập khẩu bắt nguồn từ tập quán kinh doanh tồn tại nhiều năm: hơn 80% doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam vẫn duy trì thói quen mua CIF bán FOB do tâm lý ngại gánh vác rủi ro vận tải và logistics quốc tế. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng 24 cảng biển với tổng chiều dài 35.439 mét bến còn thiếu các cảng trung chuyển container nước sâu hiện đại, khiến hàng hóa phải phụ thuộc trung chuyển qua Singapore và Hồng Kông.

Khi so sánh với các quốc gia trong khu vực và thế giới, quy mô dịch vụ của Việt Nam còn khoảng cách đáng kể. Điển hình như Hoa Kỳ, giá trị xuất khẩu dịch vụ qua Phương thức 1 năm 1998 đạt 255 tỷ USD với mức thặng dư 83 tỷ USD, giúp bù đắp đáng kể cho mức thâm hụt 250 tỷ USD của cán cân thương mại hàng hóa. Tại Thái Lan, xuất khẩu dịch vụ đạt gần 19 tỷ USD năm 1999, chiếm 26% tổng kim ngạch xuất khẩu và đón khoảng 7 triệu lượt khách du lịch quốc tế mỗi năm. Các dữ liệu này cho thấy Việt Nam mới chỉ cung ứng được 60 trên tổng số 155 phân ngành dịch vụ theo chuẩn WTO. Các phân tích được trực quan hóa qua Biểu đồ 2.1 và Bảng 2.1 trong báo cáo đã phản ánh rõ sự phụ thuộc lớn vào tài nguyên tự nhiên và lao động thô, thiếu vắng các dịch vụ thâm dụng tri thức có giá trị gia tăng cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 12 tỷ USD vào năm 2010 với tốc độ tăng trưởng bình quân 16,3%/năm, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất như sau:

  • Hoàn thiện thể chế thương mại và pháp luật kinh tế: Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện hệ thống Nghị định hướng dẫn Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh và Luật Đầu tư trong năm 2006-2007; xây dựng lộ trình mở cửa 12 ngành dịch vụ theo đúng cam kết GATS và Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS).
  • Đột phá nâng cao năng lực đội tàu biển và hạ tầng logistics: Bộ Giao thông Vận tải ban hành chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, trang thiết bị đóng mới và sửa chữa tàu biển; khuyến khích các chủ hàng thay đổi tập quán sang mua FOB bán CIF; phấn đấu nâng thị phần vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của đội tàu quốc gia lên mức 25% vào năm 2010.
  • Nâng cấp chất lượng chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch: Tổng cục Du lịch liên kết chặt chẽ với ngành hải quan và công an cửa khẩu nhằm đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh; kiểm soát triệt để tình trạng chèo kéo khách và gian lận giá; phát triển mạnh các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch chữa bệnh để đạt mốc kim ngạch 3,2 tỷ USD vào năm 2010.
  • Cơ cấu lại hệ thống tài chính - ngân hàng và bảo hiểm: Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính thúc đẩy xử lý nợ đọng, đưa tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại xuống dưới 3%; khuyến khích các định chế tài chính quốc tế tham gia cung ứng dịch vụ phái sinh, thẻ tín dụng; mở rộng năng lực tài bảo hiểm trong nước nhằm đưa kim ngạch dịch vụ tài chính đạt 550 triệu USD và bảo hiểm đạt 470 triệu USD vào năm 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải và Ngân hàng Nhà nước sử dụng công trình làm tài liệu tham chiếu để xây dựng quy hoạch phân ngành dịch vụ, thiết lập hệ thống thống kê EBOPS và điều hành đàm phán thương mại quốc tế.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp: Giám đốc điều hành tại 1.084 doanh nghiệp vận tải biển, các tổng công ty hàng không, doanh nghiệp lữ hành và định chế tài chính ứng dụng các bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro, chuyển dịch phương thức mua bán thương mại quốc tế nhằm giành lại 85% thị phần vận tải từ tay đối thủ nước ngoài.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu kinh tế: Các chuyên gia kinh tế thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cùng các trường đại học khối kinh tế khai thác khung lý thuyết GATS 4 phương thức và hệ thống chỉ tiêu SNA để phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài liên quan.
  • Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành thương mại quốc tế: Người học ngành Kinh tế Thương mại, Kinh doanh Quốc tế sử dụng luận văn làm tài liệu mẫu mực về phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, phân tích chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô và kỹ năng xử lý bảng biểu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

  • Bốn phương thức cung cấp dịch vụ quốc tế theo GATS được thể hiện như thế nào? Theo GATS, thương mại dịch vụ gồm: Phương thức 1 (cung cấp dịch vụ xuyên biên giới như bưu chính, viễn thông); Phương thức 2 (tiêu dùng ở nước ngoài như khách quốc tế chi tiêu 1.300 triệu USD tại Việt Nam); Phương thức 3 (hiện diện thương mại thông qua lập pháp nhân FDI); và Phương thức 4 (thể nhân xuất khẩu lao động sang nước ngoài đạt mục tiêu 3 tỷ USD năm 2010).

  • Tại sao đội tàu biển Việt Nam chỉ chiếm 14% đến 15% thị phần dù có hơn 1.000 tàu? Nguyên nhân chủ yếu do tập quán doanh nghiệp nội địa quen mua CIF bán FOB, tuổi tàu bình quân còn cao ở mức 18,5 tuổi, cơ cấu thiếu tàu chuyên dụng cỡ lớn và hệ thống cảng biển chưa có cảng trung chuyển quốc tế, khiến 85% thị phần rơi vào tay hãng tàu nước ngoài.

  • Ngành dịch vụ nào dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2004-2005? Dịch vụ du lịch dẫn đầu với kim ngạch 1.300,0 triệu USD năm 2005, chiếm trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ toàn quốc, nhờ thu hút thành công 3,47 triệu lượt khách quốc tế đến tham quan và lưu trú.

  • Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ giai đoạn 2006-2010 được xác định ra sao? Theo Đề án phát triển xuất khẩu, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch dịch vụ bình quân 16,3%/năm, đạt quy mô tổng thể 12 tỷ USD vào năm 2010, trong đó du lịch chiếm 3,2 tỷ USD, xuất khẩu lao động 3 tỷ USD và vận tải biển 1,1 tỷ USD.

  • Sự khác biệt căn bản giữa phân loại ISIC và CPC trong nghiên cứu dịch vụ là gì? ISIC phân loại 138 hoạt động kinh tế dựa trên quy trình sản xuất của doanh nghiệp phục vụ hạch toán SNA, trong khi CPC phân loại thành 5 nhóm sản phẩm đầu ra cuối cùng phục vụ việc đàm phán mở cửa 155 phân ngành thương mại WTO.

Kết luận

  • Xuất khẩu dịch vụ Việt Nam đạt quy mô 4.260,0 triệu USD năm 2005, đóng vai trò đòn bẩy quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ổn định cán cân thanh toán quốc gia.
  • Công trình đã hệ thống hóa chuẩn xác khung lý luận quốc tế gồm GATS 4 phương thức, chuẩn phân loại ISIC, CPC và hệ thống thống kê cán cân thanh toán BPM5 của IMF.
  • Báo cáo chỉ rõ những nút thắt cốt lõi: Việt Nam mới cung ứng được 60 trên 155 phân ngành dịch vụ WTO, đội tàu biển nội địa mới chiếm 14-15% thị phần chuyên chở hàng hóa.
  • Luận văn xác lập mục tiêu chiến lược giai đoạn 2006-2010 với tốc độ tăng trưởng kim ngạch bình quân 16,3%/năm nhằm đạt mốc 12 tỷ USD vào năm 2010.
  • Hệ thống giải pháp liên ngành được xây dựng đồng bộ từ cải cách thủ tục thương mại, miễn thuế đầu tư đóng tàu đến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và dịch vụ du lịch.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Ngọc là công trình nghiên cứu toàn diện, đặt nền tảng khoa học vững chắc cho chiến lược xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trước thềm gia nhập WTO năm 2006. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ các nhóm giải pháp đề xuất để gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới. Bạn đọc hãy tham khảo toàn văn tài liệu để nắm bắt chi tiết phương pháp luận và nguồn dữ liệu thực chứng chuyên sâu.