CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm Văn hoá Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, bao gồm cả khía cạnh vật chất và phi vật chất như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị, nhà cửa, quần áo.cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là khía cạnh của văn hóa. Văn hóa bắt nguồn từ chữ la tinh ‘cultus” có nghĩa là gieo trồng.
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Theo Đại từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Văn hóa thông tin,1998: Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo trong lịch sử. Khái niệm Văn hoá tổ chức Do tính chất trừu tượng của VHTC mà đã có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về việc đưa ra khái niệm Văn hóa tổ chức: Theo Louis M.R, (JUL,1980), "Career transition: Varieties commonalities”, the academy of management review: Văn hóa tổ chức là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức. Những quan niệm này phần lớn các thành viên hiểu ngầm với nhau và chỉ thích hợp cho tổ chức riêng của họ .Tunstall, (1983), "cultural transition at AT&T", Sloan managerment review 251: Văn hóa tổ chức có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn và hành vi ứng xử, cách thức hành động riêng của từng tổ chức.
Các mặt đó quy định mô hình hoạt động của tổ chức và cách ứng xử của từng thành viên tổ chức đó.R(2001), "organization institution transformation", ERIC Clearn higher education washington DC: Văn hóa tổ chức được hiểu là tổng 9 các quan niệm, niềm tin, giá trị- những yếu tố mà các thành viên của tổ chức chia sẻ, chuyển tải thông qua: làm cái gì, làm như thế nào, ai làm. Theo quan điểm của cá nhân nghiên cứu: Văn hoá tổ chức là toàn bộ các giá trị văn hoá được xây dựng nên trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mỗi tổ chức, trở thành các giá trị, các quan niệm tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của tổ chức đó, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của thành viên trong việc theo đuổi và thực hiện mục đích. Trong môi trường chung đó những quan niệm, tập quán, ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp dần được hình thành và trở thành những giá trị mặc định của doanh nghiệp, mà những nhân viên gia nhập buộc phải hoà nhập vào nên văn hóa đó. Phát triển Văn hoá tổ chức Phát triển văn hoá tổ chức là phát triển hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong một tổ chức cùng thống nhất và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến nhận thức và hành động của từng thành viên.
Phát triển văn hoá tổ chức có 3 điểm cần ghi nhớ: - Mục đích: Đạt được sự thống nhất trong nhận thức, hình thành năng lực hành động. - Nội dung: Hệ thống giá trị làm thước đo, triết lý làm động lực và cách vận dụng vào việc ra quyết định hàng ngày. - Các tác dụng, giá trị, ý nghĩa giúp: chuyển hoá nhận thức thành động lực và chuyển hoá năng lực thành hành động. Có thể nhận thấy rõ, triển khai văn hoá trong một tổ chức là hướng đến sự thống nhất về nhận thức/ý thức giữa các thành viên và phát triển năng lực hành động/hành vi thống nhất cho họ khi hành động.
Đặc trưng văn hóa tổ chức - Văn hóa tổ chức mang “tính nhân sinh”, tức là gắn với con người. Tập hợp một nhóm người cùng làm việc với nhau trong tổ chức sẽ hình thành nên những thói quen, đặc trưng của đơn vị đó. Do đó, văn hóa tổ chức có thể hình thành một cách “tự phát” hay “tự giác”. Theo thời gian, những thói quen này sẽ dần càng rõ ràng hơn và hình thành ra “cá tính” của đơn vị.
Nên, một tổ chức, dù muốn hay không, đều sẽ dần hình thành văn hoá của tổ chức mình. Văn hóa tổ chức khi hình thành một cách tự phát có thể phù hợp với mong muốn và mục tiêu phát triển của tổ chức hoặc không. Chủ động tạo ra những giá trị văn hoá mong muốn là điều cần thiết nếu tổ chức muốn văn hóa thực sự phục vụ cho định hướng phát triển chung, góp phần tạo nên sức mạnh cạnh tranh của mình. - Văn hóa tổ chức có “tính giá trị”.
Không có văn hóa tổ chức “tốt” và “xấu” (cũng như cá tính, không có cá tính tốt và cá tính xấu), chỉ có văn hoá phù hợp hay không phù hợp (so với định hướng phát triển của tổ chức). Giá trị là kết quả thẩm định của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang độ nhất định; và những nhận định này được thể hiện ra thành “đúng- sai”, “tốt-xấu”, “đẹp-xấu”., nhưng hàm ý của “sai” của “xấu”, về bản chất, chỉ là “không phù hợp”. Giá trị cũng là khái niệm có tính tương đối, phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian. Trong thực tế, người ta hay áp đặt giá trị của mình, của tổ chức mình cho người khác, đơn vị khác, nên dễ có những nhận định “đúng-sai” về văn hoá của một tổ chức nào đó.
- Văn hóa tổ chức có “tính ổn định”. Cũng như cá tính của mỗi con người, văn hoá tổ chức khi đã được định hình thì “khó thay đổi”. Qua thời gian, các hoạt động khác nhau của các thành viên tổ chức sẽ giúp các niềm tin, giá trị được tích lũy và tạo thành văn hoá. Sự tích lũy các giá trị tạo nên tính ổn định của văn hoá.
Dấu hiệu đặc trưng văn hóa tổ chức 1 Biểu trưng là bất kỳ thứ gì có thể được sử dụng làm phương tiện thể hiện nội dung của văn hoá tổ chức: triết lý, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy nhằm hỗ trợ các thành viên trong quá trình nhận thức hoặc để phản ánh mức độ nhận thức của thành viên và của toàn tổ chức. Biểu trưng văn hoá tổ chức thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, phong phú, đa dạng tuỳ theo sự sáng tạo của mỗi tổ chức nhằm hai mục đích sau:Thể hiện những giá trị, triết lý, nguyên tắc muốn thể hiện và mong muốn được các đối tượng hữu quan nhận biết một cách đúng đắn; hỗ trợ cho những đối tượng hữu quan bên trong trong quá trình nhận thức và thực hiện khi ra quyết định và hành động. Các biểu trưng trực quan điển hình bao gồm: đặc điểm kiến trúc; nghi thức đặc trưng, biểu trưng ngôn ngữ, biểu trưng phi ngôn ngữ, mẩu chuyện, tấm gương, ấn phẩm, tài liệu văn hóa tổ chức, truyền thống. Nhận thức và sự thay đổi nhận thức diễn ra thường xuyên trong mỗi cá nhân, chúng rất khó nhận thấy được bằng những biểu hiện trực quan; tuỳ theo mức độ nhận thức, trạng thái biểu cảm và tính chủ động trong hành vi, các biểu trưng phi trực quan có thể được chia thành bốn cấp độ từ thấp đến cao là: - Giá trị, biết những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ; - Thái độ, hiểu được ý nghĩa của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ; - Niềm tin, thấy được lợi ích/giá trị của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đápứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ đối với bản thân và mọi người; - Nguyên tắc coi việc thực hiện của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ là cách hành động đúng đắn, tốt nhất đối với bản thân 1 1.
Chức năng của Văn hóa tổ chức - Văn hóa có chức năng xác định ranh giới, nghĩa là văn hóa tạo ra sự khác biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác. - Văn hóa có chức năng lan truyền chủ thể cho các thành viên trong tổ chức. - Văn hóa thúc đẩy phát sinh các cam kết của nhân viên đối với những gì lớn hơn so với lợi ích riêng của cá nhân họ. - Văn hóa làm tăng sự ổn định của hệ thống xã hội.
Văn hóa là một chất keo dính, giúp gắn kết tổ chức lại thông qua việc đưa ra các tiêu chuẩn thích hợp để người lao động biết họ cần làm gì và nói gì. - Văn hóa có tác dụng kiểm soát để định hướng và hình thành nên thái độ và hành vi của người lao động. Chức năng này có ý nghĩa đặc biệt đối với mỗi chúng ta.4 Nội dung xây dựng Văn hóa tổ chức cho đơn vị cơ sở 1. Xác định sứ mệnh, tầm nhìn, triết lý kinh doanh, giá trị cốt lõi - Sứ mệnh: Mỗi một tổ chức ra đời đều mang một sứ mệnh, sứ mệnh của tổ chức trả lời cho câu hỏi: Tại sao ta lập tổ chức, mục đích lâu dài của tổ chức là gì? tổ chức làm gì để tồn tại và phát triển? Khi sứ mệnh của tổ chức được tuyên bố rõ ràng thì các thành viên sẽ dễ dàng hơn trong việc ra quyết định sẽ làm gì và làm như thế nào để tổ chức luôn luôn đi đúng hướng và thực hiện được sứ mệnh của mình.
Khi nhân viên hiểu biết về sứ mệnh của tổ chức sẽ tin tưởng hơn vào con đường mà mình đang đồng hành cùng tổ chức, thấy rõ ý nghĩa của công việc mình đang thực hiện. Do vậy, chỉ có sứ mệnh rõ ràng, vì mục đích lớn lao, lâu dài, thì tổ chức mới trường tồn. - Tầm nhìn chiến lược: Tầm nhìn được hiểu như một hành động hay một sức mạnh mà con người ta đoán được rằng nó sẽ xảy ra trong tương lai. Tầm nhìn chỉ ra phương hướng rõ ràng cho một tổ chức.
Tầm nhìn (hay còn 1 gọi là viễn cảnh) là bức tranh lý tưởng về tổ chức trong tương lai. Nếu như sứ mệnh trả lời câu hỏi "Tổ chức làm gì?" thì Tầm nhìn lại trả lời câu hỏi "Tổ chức sẽ đạt được gì, sẽ đi đến đâu?" - Triết lý kinh doanh: Triết lý kinh doanh là những giá trị cốt lõi mà một tổ chức luôn hướng tới và đảm bảo để nó được thực hiện một cách tốt nhất. Triết lý kinh doanh là động lực và cũng là thước đo để một tổ chức hướng tới.