Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Năng lực tư duy và tư duy sáng tạo là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành học như tâm lí học, kinh tế học, giáo dục học.
Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, vấn đề này đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu từ rất sớm. Vào thế kỉ III, nhà toán học Pappos (Hy Lạp) [20.26] đã đặt nền móng cho sự khởi đầu về về tư duy sáng tạo và đã gọi khoa học này là Ơristic (tìm ra rồi). Lúc bấy giờ tư duy sáng tạo được hiểu là khoa học về các phương pháp và quy tắc sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực nhưng vấn đề này chưa được phổ biến rộng rãi. Đến nửa đầu thế kỉ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thì yếu tố sáng tạo được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm.
Từ đó nhu cầu nghiên cứu hoạt động sáng tạo trong khuôn khổ của sự phát triển tâm lý, nhất là trí tuệ xuất hiện. Các nhà khoa học Mĩ đã tuyên bố vai trò của năng lực sáng tạo có tác động to lớn đến sự phát triển của quốc gia vì “hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ đến sự tiến bộ của khoa học, mà còn đến toàn bộ xã hội nói chung và dân tộc nào biết nhận ra được những nhân cách sáng tạo một cách tốt nhất, biết phát triển họ và biết tạo ra cho họ những điều kiện thuận lợi nhất thì dân tộc đó sẽ có được những ưu thế lớn lao” [35, tr. Một triết gia bật nhất của nước Mĩ John Dewey cho rằng nhiệm vụ giáo dục của nhà trường của người giáo viên là phải biết nắm bắt những hoạt động của trẻ. Từ đó định hướng những hoạt động đó chứ không phải trẻ em khi tới trường là để giáo viên có thể ghi lên đó những bài học văn minh.
Qua đó ông kêu gọi giáo viên tạo ra một môi trường. Trong đó những hoạt động của trẻ có thể chứa đựng cả những tình huống khó để trẻ phải vận dụng kiến thức và kỹ năng về khoa học, lịch 6 Luan van sử, nghệ thuật để giải quyết qua quá trình vận dụng tư duy của học sinh sẽ được phát triển [14, tr. Vào năm 1950, nhà tâm lý học Guiford. P (Mĩ) đã đưa ra mô hình phân định cấu tạo trí tuệ gồm 2 khối cơ bản là trí thông minh và sáng tạo.
Ông cũng đưa ra khái niệm cơ bản của tư duy con người là tư duy hội tụ và tư duy phân kì. Trong đó, tư duy hội tụ là kiểu tư duy theo 1 chiều hướng đã định sẵn. Tư duy phân kì là kiểu tư duy rộng ra, tìm nhiều lời giải nhiều phương án sáng tạo hơn không theo lối mòn tư duy ban đầu. Ông xem sáng tạo là một thuộc tính của tư duy và nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo [28,tr.
Tác giả Omizumi kagayaki (Nhật Bản) với quyển “Phương pháp luyện trí não” (1991), đã giới thiệu các phương pháp để rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo, ông cho rằng để tránh sự sơ cứng của bộ não thì cần thiết phải rèn luyện thành thói quen xem xét một sự vật hay một vấn đề nào đó từ nhiều khía cạnh khác nhau, đồng thời cho người học phải chịu khó tư duy, cần gạt bỏ những hiểu biết về kiến thức thông thường và những kinh nghiệm trong quá khứ để suy nghĩ khỏi bị lệ thuộc, từ đó tính sáng tạo trong tư duy sẽ không bị hạn chế [32, tr. Tiếp theo vào năm 2001, Lorinw. Anderson và David R. Karthwohl trên cơ sở kế thừa, phát triển thêm quan điểm của B.Bloom về phân loại tư duy theo mục đích giáo dục.
Tác giả đã cho ra đời quyển “Phân loại tư duy cho việc dạy học và đánh giá” trong công trình nghiên cứu này là tác giả đã phân chia và sắp xếp lại các cấp độ tư duy với 6 cấp độ từ đơn giản đến phức tạp: Nhớ, hiểu (tư duy bậc thấp), vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo (tư duy bậc cao). Ngoài ra, các cấp độ này được chia thành các phạm trù nhỏ hơn: Nhớ: biết, nhớ; hiểu: giải thích, minh họa, phân loại, tóm tắt, suy luận, so sánh; vận dụng: thi hành, thực hiện; phân tích: phân biệt, tổ chức, quy nạp; đánh giá: kiểm tra, phê bình; sáng tạo: tạo ra, lập kế hoạch, so sánh. Như vậy, điểm mới trong công trình nghiên cứu này là thang nhận thức đã bổ sung thêm cấp độ tư duy sáng tạo và mở rộng phạm vi của các cấp độ, giúp giáo viên thiết kế bài giảng cụ thể hơn và rõ ràng hơn [1]. Vì vậy, người học có khả năng phát huy hết khả năng bản thân để giải quyết vấn đề hiệu quả và đúng đắn đồng thời tránh lối mòn tư duy, giúp người học khơi dậy nhiều ý tưởng mới sáng tạo.
7 Luan van Tư duy sáng tạo có vai trò to lớn đối với sự phát triển. Nhất là hiện nay, khi mọi lĩnh vực của khoa học đều có bước phát triển vượt bật thì năng lực tư duy sáng tạo của con người trở nên ưu việt hơn. Vấn đề này đã được hầu khắp các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam Nghiên cứu về lĩnh vực tư duy sáng tạo ở nước ta có bước khởi đầu muộn hơn so với các nước khác.
Do đó các công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo còn khá ít. Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Sáng tạo được đề cập đến trong quyển Tâm lý học sáng tạo (1996) của tác giả Nguyễn Huy Tú đã tập trung vào các vấn đề chung của sáng tạo như: thế nào là sáng tạo, quá trình sáng tạo, sản phẩm sáng tạo. Tác giả cho rằng sáng tạo được thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề, là khả năng loại bỏ các giải pháp truyền thống để tìm ra các giải pháp mới độc đáo, sáng tạo và hợp lí trên cơ sở tổng hợp các năng lực, phẩm chất kinh nghiệm của bản thân [43, tr. Cũng trong lĩnh vực tâm lí học tác giả Nguyễn Đức Uy (1999) với tác phẩm Tâm lý học sáng tạo đã đề cập đến 5 vấn đề.
Thứ nhất, ông cho rằng tâm lý học sáng tạo chính là tâm lý học phát triển. Thứ hai, cái chính yếu của sáng tạo là sự mới mẻ của nó,…cuối cùng ông đã phân tích một số nhân tố, phẩm chất cơ bản của nhân cách sáng tạo và năng lực sáng tạo. Ở đây tác giả đã hệ thống hóa lại các thành tựu về tâm lý học sáng tạo để giúp người đọc hiểu được thế nào là sáng tạo, làm gì để phát hiện tăng cường năng lực sáng tạo cá nhân và cộng đồng [48]. Nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong dạy học tác giả Tôn Thân cho rằng: “Tư duy sáng tạo là dạng tư duy độc lập tạo ra ý tưởng mới độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao, không gò bó hoặc phụ thuộc vào những cái đã có”.
Đồng quan điểm với ông, tác giả Trần Luận cho rằng sáng tạo có nghĩa là tạo ra cái mới. Trong đó, tính mới mẻ và tính độc lập của tư duy trong giải quyết vấn đề là hai đặc trưng cơ bản nhất của tư duy sáng tạo [38]. Theo Hoàng Tụy trong quyển Giáo dục xin cho tôi nói thẳng (2012) tác giả đã nêu lên vai trò của người thầy là phải thông qua giáo dục mà đánh thức cái tiềm năng trong mỗi học sinh, khơi gợi và phát triển cái nội lực vốn có của họ. Theo tác 8 Luan van giả, người thầy không chỉ dạy cho học sinh học, mà còn phải từng bước định hướng cho họ biết tự học, tự tìm tòi, phát hiện ra tri thức mới.
Như vậy, nội lực của học sinh đã được phát huy, thông qua tri thức mà phát triển trí tuệ, phát triển tư duy rèn luyện nhân cách [44,tr. Trong quyển Cơ sở khoa học của sự sáng tạo, tác giả Nguyễn Văn Lê có đề cập đến những nét đặc trưng cơ bản của người có tư duy sáng tạo như: có óc tư duy độc lập và óc tư duy phê phán; không suy nghĩ gò bó, không theo lối mòn; luôn đi vào các vấn đề bản chất nhằm tìm ra các quy luật, có khả năng dự báo và say sưa nung nấu các ý tưởng mới, trước một tình huống, một vấn đề phải giải quyết, họ luôn tìm ra giải pháp mới, độc đáo, tối ưu…Qua đó tác giả còn nhấn mạnh quá trình sáng tạo của con người thường bắt đầu từ một ý tưởng mới, bắt nguồn từ sự sáng tạo [20. Người học không phải đứng trước những bài giảng, kiến thức sẵn có mà được đứng trước những tình huống có vấn đề, phải tự lực tìm hiểu, phân tích, giải quyết vấn đề, để tự mình khám phá ra cái chưa biết, tự mình tìm ra kiến thức, lớp học trở thành nơi giao tiếp thường xuyên giữa trò với trò dưới sự hướng dẫn của giáo viên và giữa thầy với trò. Điều đó thể hiện được vai trò chủ thể của người học và người thầy lúc bấy giờ không còn là người thầy truyền đạt tri thức sẵn có nữa, mà là người định hướng, đạo diễn cho học sinh tự mình khám phá ra chân lí, tự tìm ra kiến thức dựa vào năng lực là khả năng tư duy của mình.
Trần Bá Hoành với tác phẩm Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, tác giả cho rằng: “nếu rèn luyện cho người học kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào tình huống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyết những vấn đề đặt ra sẽ tạo ra cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi con người”. Tác giả còn nhấn mạnh nếu giáo viên định hướng cho người học có được những phương pháp, kỹ năng, ý chí tự học, biết vận dụng linh hoạt vào thực tiễn thì sẽ khơi dậy được tiềm năng vốn có trong mỗi cá nhân người học, góp phần nâng cao kết quả học tập [17,tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Cường- Bernd Meier (2010) trong quyển Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT thì Chương trình dạy 9 Luan van học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một tên gọi khác hay một mô hình cụ thể hóa của chương trình định hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra.