CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Quyền truyện tranh không chữ đầu tiên của một người Anh vô danh ra đời vào năm 1866 với ba màu trắng, đỏ va đen. Nó trở nên nỗi tiếng khi Charles Spurgeon sử dụng nó trong bài thuyết giáo của ông vào năm 1866 tại các nhà tạm đô thị tại London. Vào khoảng thời gian đầu mới xuất hiện, truyện tranh không chữ chỉ được sử dụng vào việc truyền giáo.
Mãi cho đến thế kỷ XX, Mercer Mayer mới giới thiệu quyên truyện tranh không chữ dành cho trẻ em đầu tiên trên thé giới. Truyện có tên “A boy, a dog and a frog” và được xuất bản vao năm 1967. Truyện tranh không chữ “The Snowman” được tác giả Raymond Briggs trình làng vào năm 1978 và nhanh chóng nỗi tiếng trên toàn thế giới. “The Snowman” còn được xem là đại diện cho thé loại truyện tranh không chữ dành cho trẻ em.
Không lâu sau đó, thể loại truyện tranh không chữ đã trở thành một thể loại độc đáo của văn học ma Sarah Dowhower cho là “một thé loại của thời đại ”. Sarah Dowhower đã giới thiệu và đề cao vai trò của sách không chữ trong bài tham luận “Sách không chữ: Triển vọng và tiềm năng, một thé loại của thời đại” đăng trong Reading teacher vào năm 1995. Theo tác giả, trong vài thập ky qua, sách không chữ đã trở thành một thé loại văn học dành cho mọi lứa tuổi với nhiều định dạng và phong cách khác nhau. Tác giả cho biết mặc dù thể loại sách không chữ được nhiều nhà giáo đục khuyến khích sử dụng trong quá trình dạy và học nhưng vẫn còn quá ít hướng dẫn hỗ trợ cho các giáo viên sử dụng nhằm phát huy tối đa kết quả mà thé loại này có thé mang lại cho người học.
Qua bài viết, tác giả đề ra một số hoạt động giáo dục có thể sử dụng với sách không chữ. Năm 1998, trong “Một nghiên cứu về truyện tranh không chữ” Suh Jung Ah cho biết trẻ ở các độ tuổi khác nhau thì hứng thú với các câu chuyện không chữ khác nhau. Vì vậy, giáo viên mam non can thiết kế và tiến hành kế hoạch đạy học phù hợp từng giai đoạn phát triển và độ tuổi của trẻ. Theo đó, giáo viên và phụ huynh có thé giới thiệu cho trẻ mẫu giáo nhỏ truyện tranh về các chủ đề gần gũi với cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, còn với trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn có thể mở rộng đa dạng các chủ dé khác nhau như: phiêu lưu, viễn tưởng.
nhằm kích thích trí tưởng tượng, khả năng kể chuyện sáng tạo của trẻ. Linco Mary Renck Jalongo, Denise Dragich, Natalie K. Conrad và Ann Zhang — các tác giả của quyên sách có tên “Sử dụng truyện tranh không chữ để hỗ trợ việc làm quen văn học” xuất bản năm 2002 thì truyện tranh không chữ dựa hoàn toan vào hình vẽ dé kể chuyện. Đây là thé loại truyện tuyệt vời dành cho các cô giáo mầm non.
Vì truyện tranh không chữ cung cấp một câu chuyện bằng hình ảnh với hệ thống cốt truyện rõ ràng mà không cần đến văn bản. Các tác giả đã đưa ra một vài gợi ý về hoạt động với truyện tranh không chữ trong trường mầm non. Các tác giả còn đề xuất giới thiệu giá trị độc đáo của thé loại này tới phụ huynh của trẻ. Năm 2003, trong luận văn “Tác động của các hoạt động xây dựng truyện bằng truyện tranh không chữ đối với sự sáng tạo của trẻ em”, Lee Young Ja đã chi ra rằng nhờ có truyện tranh không chữ mà các yếu tô trí tuệ của sự sáng tạo phát triển đáng kể như sự linh hoạt, trôi chảy, độc đáo và các yếu tố tình cảm của sự sáng tạo có tác động tích cực hơn.
Tác giả đã khẳng định sáng tạo của trẻ có thể được phát triển bởi các hoạt động xây dựng truyện làm bằng truyện tranh không chữ. Đến năm 2008, Shannon Kavanagh đã công bố các phong cách nghệ thuật thường được sử dụng trong truyện tranh không chữ cũng như chủ nghĩa siêu thực và cách sử dụng loại sách này trong các lớp học và ở nhà đẻ hỗ trợ phát triển văn học trong luận án Thạc sĩ “Một cách tiếp cận văn học siêu thực”. Cùng thời gian trên, Marina Mohd Arif cùng Fatimah Hashim xem xét việc sử dụng và sự hưởng ứng của trẻ 7 tuôi không biết chữ với truyện tranh không chữ trong “Đọc từ Không chữ: Một nghiên cứu về việc sử dụng truyện tranh không chữ”. Các tác giả đã khẳng định truyện tranh không chữ là xuất phát điểm rất tốt cho việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học.
Việc thừa nhận sự quan trọng của truyện tranh không chữ còn mở rộng những cách tiếp cận của giáo viên đến việc đọc sau này của trẻ. Nghiên cứu CỦng vài ra rằng làm quen với sách không cần hắt đầu +⁄4: <3 ugu Vi với truyện tranh không chữ, một người không biết đọc đã hiểu được câu chuyện ma không can đọc văn bản. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều nhấn mạnh tác dụng của truyện tranh không chữ đến nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc sử dụng truyện tranh không chữ, đặc biệt là việc sử dụng truyện tranh không chữ nhằm phát triển kỹ năng kể chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi còn khá mới mẻ.
Vì vậy, chúng tôi hy vọng đề tài của mình bên cạnh việc khảo sát thực trạng sẽ bước đầu đưa ra phương pháp hướng dẫn trẻ ké chuyện sáng tạo với truyện tranh không chữ nhằm phát triển kỹ năng kẻ chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Những cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 2. Định nghĩa Trong “Tâm lý học”, Rudich P.A xem tưởng tượng là một quá trình nhận thức, trong đó có sự xây dựng những biểu tượng mới trên cơ sở “chế biến” lại những biểu tượng đã có Tưởng tượng là một hoạt động của ý thức, trong quả trình tưởng tượng con người xây dựng được những biểu tượng mà trước đây chưa bao giờ có bằng cách dựa vào những hình ảnh mà qua cuộc sông được giữ lại trong ký ức con người và được cải tạo, biến đổi thành một biểu tượng mới. Trong “Tâm lý học sáng tạo văn học”, M.
Rnauđốp cho rằng bản chat tưởng tượng va tư duy giống nhau, chỉ khác ở phương pháp tạo ra sản phẩm: “Tiưởng tượng là một nguyên tắc sáng tạo độc lập cũng như lý tính vậy, cả hai đều sử dung các dit kiện của kinh nghiệm hay trí nhớ bằng những Hiện nay, tại Việt Nam, các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uan, Nguyễn Văn Lũy, Dinh Văn Vang, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy,. đều thống nhất với định nghĩa khái quát các đặc trưng của quá trình tưởng tượng: “Tưởng tượng là quá trình tâm ly phan anh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới dựa trên cơ sở những biểu tượng đã có "[L26, tr. Tưởng tượng phản ánh những cái mới, chưa từng có trong kinh nghiệm của xã hội nói chung hay của cá nhân nói riêng. Quá trình sáng tạo ra cái mới của tưởng tượng bắt đầu từ biểu tượng và được thực hiện chủ yếu dưới hình thức hình ảnh cụ thể.
Trong quá trình tưởng tượng, các biểu tượng, tri thức của con người được “nhào nặn” theo một cách mới, nó là hình ảnh mới do con 10 người tạo nên trên cơ sở biểu tượng của trí nhớ. Nếu trí nhớ tái hiện kinh nghiệm một cách chân thực thì tưởng tượng lại biến những kinh nghiệm ấy thành một thế giới mới, lạ và độc đáo. Phân loại tưởng tượng Các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uan, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy,. đều phân loại tưởng tượng dựa theo tính tích cực và tính hiệu lực của tưởng tượng e Tưởng tượng tiêu cực Tưởng tượng tiêu cực là loại tưởng tượng vạch ra những hình ảnh không được thẻ hiện trong cuộc sống, vạch ra những chương trình, hành vi không được thực hiện và luôn luôn không thé thực hiện được.
Con người có những tưởng tượng tiêu cực nhằm trốn tránh những nhiệm vụ không thé giải quyết, những điều kiện khó khăn trong cuộc sống hay những sai lầm của bản thân. e Tưởng tượng tích cực Tưởng tượng tích cực là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh nhằm đáp ứng những yêu cầu, kích thích tính tích cực thực tế của con người. Tưởng tượng tích cực có hai loại: * Tưởng tượng tái tạo Tưởng tượng tái tạo là quá trình tạo ra những hình ảnh chỉ là mới đổi với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên cơ sở sự mô tả của ng n tượở "Tư tạo sángg Tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng hình ảnh mới một cách độc lập. Những hình ảnh nảy là mới không chỉ với cá nhân ma còn với xã hội, được hiện thực hóa trong các sản phẩm vật chất độc đáo va có giá trị.
Tưởng tượng sáng tạo có ý nghĩa rất to lớn đối với xã hội loài người, là yếu tố quan trọng của hoạt động sáng tạo. Giữa tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo không có sự ngăn cách tuyệt đối. Mọi sự tưửng trong sáng tạo đều đòi hỏi lặp lại hình ảnh của các sự vật, hiện tượng nào đo đã biết trước đây và trong quá trình tưởng tượng tái tạo thường có yếu tố sáng tạo. Đặc điểm trí tưởng tượng của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động cho trẻ làm quen tác phẩm văn học Trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ.
Tuổi mẫu giáo là giai đoạn phát cảm về sự phát triển tưởng tượng. Trẻ rất hay tưởng tượng. Hình ảnh tưởng tượng của trẻ bay bỗng, rực rỡ, giàu màu sắc xúc cảm và hay vi phạm hiện thực. Tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủ định.
Tưởng tượng tái tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuôi mang tính có chủ định và tích cực hơn. Tưởng tượng có chủ đích dần được hình thành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch và thực hiện ý tưởng ấy. Trẻ có khả năng tưởng tượng thầm trong đầu mà không cần chỗ dựa trực quan bên ngoài. Tưởng tượng sáng tạo dần được phát triển.
Văn học góp phần phát triển trí tưởng tượng. Việc tham gia vào những trải nghiệm trong văn học cũng chính là những nỗ lực giàu trí tưởng tượng bởi vì trẻ đang tự đối chiếu mình vào trong truyện. Thường thì trẻ sẽ thấy những thế giới mà chúng chưa bao giờ thấy hoặc không được chọn lựa dé trải nghiệm với chính bản thân.