Chương 1. YẾU TỐ TRUYỆN TRONG THƠ PHẠM HỔ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 1. Yếu tố truyện trong thơ 1.1 Thơ và đặc điểm của thơ Có rất nhiều định nghĩa về thơ. Nhưng nhìn một cách khái quát nhất, “Thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức logic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe.
Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ.
Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác” [18]. Thơ có lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy-Lạp Aristotle (384-322 TCN). Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra.
Những câu có vần điệu, dễ nhớ như “Sấm bên đông, động bên tây” vốn là những kinh nghiệm được đúc kết thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy. Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành hình thức văn nghệ, giải trí. Hiện nay, thơ trở thành hình thức nghệ thuật hầu như ai cũng biết đến. Không ai đã từng thông qua quá trình giáo dục mà không biết vài câu thơ.
Thơ còn trở nên hình thức để bày tỏ tâm tư và chứa đựng tính sáng tạo của con người. Có thể nói, sự tồn tại của thơ đi song song với sự tồn tại của ngôn ngữ. Còn ngôn ngữ tức là còn thơ. 8 Thơ viết cho trẻ em mang những đặc điểm cơ bản trên, đồng thời lại có những đặc điểm riêng.
Điều đó do chính đối tượng tiếp nhận quy định. Về mặt nội dung, thơ viết cho trẻ em, hoặc do trẻ em viết phản ánh thế giới trẻ thơ, cuộc sống của trẻ thơ. Đó là bức tranh thiên gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em. Chẳng hạn, đó là bốn mùa, là các loại hoa, quả, hương vị, màu sắc.
Đó còn là thế giới động vật được nhân cách hóa như con người. Đó còn là môi trường xã hội, trong đó chủ yếu là gia đình, bè bạn, những người thân của trẻ… Về mặt nghệ thuật, tuy có nhiều quan niệm, nhưng về cơ bản, thơ viết cho trẻ em có một số đặc điểm sau: Sự hồn nhiên, ngây thơ; ngắn gọn, rõ ràng; giàu hình ảnh, vần điệu; sử dụng trí tưởng tượng phong phú; yếu tố thơ trong truyện.2 Đặc điểm của thơ viết cho trẻ mầm non 1. Sự hồn nhiên, ngây thơ Trẻ thơ là lứa tuổi ngây thơ, trong sáng nhất. Vì vậy, hồn nhiên và ngây thơ vốn là bản tính của trẻ thơ, vì thế, “yêu cầu đầu tiên của văn học viết cho các em cũng chính là sự hồn nhiên, ngây thơ.
Những sáng tác của các em thực sự cuốn hút người đọc chính bởi sự hồn nhiên ngây thơ, trong trẻo của mình. Ví dụ: Hôm nay trời nắng chang chang Mèo con đi học chẳng mang thứ gì Chỉ mang một cái bút chì Và mang một cái bánh mì con con. (Phan Thị Vàng Anh) Bài thơ viết về một chú mèo con đi học. Mặc dù ngay từ đầu, chú mèo ấy nói là “chẳng mang thứ gì” nhưng ngay sau đó lại “biện luận” rất trẻ con: chỉ mang… Tất nhiên, chú mèo con ấy là nhân cách hóa, là ẩn dụ hóa cho những em bé siêng năng, ngoan ngoãn, dễ thương, ham học.
Cũng chỉ trẻ em ở một đất nước luôn đối mặt với khó khăn, thiên tai, bão lũ mới có được sự lo lắng “người lớn” ấy. Và hành trang mà một đứa trẻ bước vào đời chính là “cái bút chì” và “một mẩu bánh mì con con”. Người lớn muốn viết cho các em phải học được sự hồn nhiên, ngây thơ ấy thì tác phẩm mới hi vọng đem lại sự thành công. 9 Hay trong bài thơ Ngủ rồi, nhà thơ Phạm Hổ đã viết: Gà mẹ hỏi gà con: - Đã ngủ chưa thế hả? Cả đàn gà nhao nhao: - Ngủ cả rồi đấy ạ! Bài thơ là cuộc đối thoại giữa gà mẹ và đàn gà con.
Nghe gà mẹ hỏi, cả bọn nhao nhao trả lời: “Ngủ cả rồi đấy ạ!”. Ngủ rồi thế mà vẫn nghe được mẹ hỏi, vẫn trả lời được… Đàn gà con ngây thơ nghĩ rằng, trả lời “Ngủ cả rồi đấy ạ!” là sự khẳng định về sự thật, và gà mẹ sẽ tin vào sự thật đó… Nhưng chúng không biết rằng chính sự khẳng định chắc nịch đó đã phủ định lại thực tế chưa ngủ của chúng. Có thể nói, đây là kiểu tư duy chỉ có ở trẻ nhỏ. Kiểu tư duy này sẽ biến mọi thứ không lôgic sẽ trở thành hoàn toàn lôgic trong thế giới trẻ thơ và làm nên nét đáng yêu của trẻ nhỏ cũng như sức hấp dẫn của văn học thiếu nhi.
Ngắn gọn và rõ ràng Trong cuộc sống, muốn trẻ thích điều gì đó thì phải làm sao để trẻ không chán cái đó. Văn học cũng vậy. Nếu để trẻ chán thì các bé sẽ không còn muốn đọc, không còn muốn nghe nữa. Bởi thông thường ở trẻ, khả năng tập trung chưa cao, tính kiên trì hạn chế, cái gì khó và quá khó sẽ khiến trẻ ngại và chán.
Vì vậy VHTN có một đặc trưng và cũng là một trong những yếu tố làm nên sự lôi cuốn đối với trẻ. Đó là sự ngắn gọn, rõ ràng. Tác phẩm ngắn sẽ giúp trẻ dễ nhớ, dễ thuộc; rõ ràng sẽ giúp trẻ dễ đọc và dễ hiểu. Chỉ những bài thơ, câu chuyện dễ nhớ, dễ đọc, dễ thuộc, dễ hiểu thì trẻ mới thích và thích được lâu.
Vì vậy, ngắn gọn, rõ ràng cũng là một trong những yếu tố góp phần làm nên sự gắn bó, yêu mến của trẻ đối với VHTN. Không chỉ ngây thơ, hồn nhiên mà tác phẩm văn học viết cho trẻ em còn phải ngắn gọn, rõ ràng, tường minh. Điều đó xuất phát từ tư duy trẻ thơ. Lứa tuổi này đang ở độ phát triển, bắt đầu tiếp nhận các thông tin, nhưng ở dạng đơn giản nhất.
Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng của tác phẩm mà còn thể hiện trong câu văn, câu thơ. Văn xuôi thường thể hiện bằng câu đơn, ngắn, ít khi dùng câu phức hợp. Nhan đề của tác phẩm bao giờ cũng cụ thể, thường đúc kết ngay ý nghĩa 10 giáo dục, có khi là tên nhân vật chính hoặc một câu hỏi mang tính định hướng, ví dụ: Bó hoa tặng cô, Cái bát xinh xinh, Ai đáng khen nhiều hơn, Bài học tốt…. Truyện thường có kết cấu theo kiểu đối lập, tương phản rất rõ ràng, giúp trẻ dễ nắm được cốt truyện, dễ hiểu nội dung, ý nghĩa của câu chuyện và có thể kể lại một cách dễ dàng.
Ví dụ: Chú dê đen, Ai đáng khen nhiều hơn, Ba cô gái, Bác gấu đen và hai chú thỏ… Còn với thơ, bài thơ thường chỉ 2 - 3 khổ. Nếu là bài dài, thường kết cấu theo kiểu đồng dao, hoặc theo thể thơ lục bát. Dạng phổ biến của thơ viết cho trẻ em lứa tuổi mầm non là thể thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, rất gần với đồng dao, một thể loại văn học dân gian phù hợp với trẻ thơ, câu thơ ngắn, vui nhộn; giúp các em vừa đọc, vừa chơi, dễ thuộc, dễ nhớ. Ví dụ: Cây dây leo Bé tí teo Ở trong nhà Lại bò ra Ngoài cửa sổ Và nghển cổ Lên trời cao Hỏi: ‘‘Vì sao?” Cây trả lời: -Ra ngoài trời, Cho dễ thở….
(Xuân Tửu - Cây dây leo) Hoặc: Hay nói ầm ĩ Là con vịt bầu Hay hỏi đâu đâu Là con chó vện Hay chăng dây điện Là con nhện con 11 Ăn no quay tròn Là cối xay lúa… (Trần Đăng Khoa - Kể cho bé nghe) Sự rõ ràng của văn học viết cho trẻ em lứa tuổi mầm non còn được thể hiện ở ý nghĩa của từ vựng. Từ ngữ thường mang nghĩa thực, với lối miêu tả cụ thể, dễ hiểu. Ví dụ: Vàng tươi hoa cúc áo Đỏ rực nụ dong riềng Tim tím hoa bìm bìm Dây tơ hồng em quấn Thành một bó vừa xinh.3 Giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu Cùng với đặc điểm về tính hồn nhiên, ngây thơ như đã nói ở trên, đặc điểm về tính giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu cũng là yếu tố không thể thiếu làm nên cái hay, cái đẹp và sức cuốn hút của VHTN. Trong thơ viết cho người lớn, nhiều khi vần không phải là yếu tố quan trọng nhất.
Song thơ viết cho trẻ em thì vần và cách gieo vần thật phù hợp luôn là yếu tố không thể thiếu. Hơn nữa, trong các tác phẩm thơ viết cho trẻ em, gieo vần là yếu tố quan trọng tạo nên nhạc điệu cho các câu thơ. Làm thơ cho các em, Phạm Hổ cũng rất coi trọng vai trò của nhạc điệu. Ông viết “Viết thơ cho các em bé, theo tôi, rất cần chú ý đến nhạc điệu”.
Nhạc điệu của thơ liên quan chặt chẽ tới việc sắp xếp, tổ chức câu thơ, vần và nhịp. Phạm Hổ thường hay sử dụng thể thơ hai, ba, bốn hoặc năm chữ, nhịp thơ ông thường ngắn, có giá trị miêu tả hiện thực. Chẳng hạn, nhịp 2/2 ở bài " Sen nở " gợi tả những cánh sen đang từ từ hé nở: Từ từ / Khẽ nở / Trăm nghìn / Cửa lụa / Xinh tươi / Sáng hồng”… Bài " Tàu dài " lại gợi lại hình ảnh đoàn tàu nhiều toa, đang chuyển động một cách nhịp nhàng, đều đặn. 12 Một đặc sắc khác của thơ Phạm Hổ là cách tạo nghĩ mới cho những âm thanh tự nhiên.
tí te” của xe chữa cháy được nhà thơ cảm nhận là tiếng sẵn sàng “có ngay, có ngay” (xe chữa cháy), tiếng “Xạch, xạch, xạch” của máy khâu là “sắp xong rồi” (Máy khâu), còn tiếng “cục tác…cục tác” của cô gà mái là một thông báo vui trứng còn nhiều, đẻ hoài “không hết, không hết” (Gà đẻ). Cách tạo nghĩa này đã làm cho hình tượng thơ thêm phần sinh động, ý nghĩa.