CHƯƠNG 1 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CÂY QUÝT 1. Cơ sở lý luận về phát triển thị trường tiêu thụ Quýt 1. Nguồn gốc Quýt thuộc chi Cam chanh (Citrus) là một chi thực vật có hoa trong họ Cửu lý h ơng (Rutaceae), có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới đông nam châu Á. Quýt là giống cây ăn quả có múi trồng nhiều nhất ở Việt Nam có tên khoa học là citrus reticulata.
Cây quýt là một cây nhỏ, lá mọc so le, mép có răng cưa nhỏ mau, lá nhẵn thơm, vỏ cây cũng có mùi thơm. Hoa nhỏ màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả hình cầu, hai đầu dẹt, khi chín màu vàng cam đỏ, vỏ mọng, nhẵn bóng, hơi lồi lõm dễ bóc, trong có những múi xếp hình nan hoa bánh xe. Khi chín ăn ngọt ngon.
Trong múi có chứa nhiều hạt (Hoàng Hùng, 2007). Phân loại và giá trị dinh dưỡng Phân loại: Quýt có nhiều loài. Trong nông nghiệp và thương mại người ta phân thành 4 nhóm như sau: - Nhóm quýt thông thường, có nguồn gốc Philipin: Citrus reticulata Blanco, cây có gai nhỏ, quả mọng hình cầu, đáy lõm, vỏ quả xốp khi chín có màu vàng cam hoặc đỏ tươi, loài này phát triển tốt ở vùng nhiệt đới. - Nhóm quýt sành, hay quýt “King”: Citrus nobilis Loureiro, có nguồn gốc ở Đông Dương, quả to, vỏ dày.
- Nhóm quýt “Satsuma”: Citrus unshiu Marcovitch, có nguồn gốc Nhật Bản. Cây hầu như không có gai, qủa cỡ trung bình, khi chín có màu vàng da cam, không có hạt. - Nhóm quýt Địa Trung Hải: Citrus deliciosa Tenore, có nguồn gốc Italia, lá có dạng hình mác, qủa cỡ trung bình, nhiều hạt. Giá trị dinh dưỡng 6 Quả quýt dùng để ăn tươi, vắt lấy nước uống, là loại quả có giá trị dinh dưỡng phong phú, trong 100 g thực phẩm hấp thụ hàm lượng protein của quýt gấp 9 lần lê, hàm lượng canxi gấp 5 lần, hàm lượng photpho gấp 5,5 lần, vitamin B1 gấp 8 lần, vitamin B2 gấp 3 lần, vitamin C cũng gấp 10 lần lê.
Các thành phần dinh dưỡng trong quýt chống lại sự phá vỡ acid uric trong máu. Các loại acid hữu cơ và vitamin trong quýt điều hòa chức năng trao đổi chất trong cơ thể đặc biệt là người già mắc bệnh tim. Vỏ quýt chứa vitamin D có thể duy trì tính dẻo của huyết quản mao mạch, phòng chống mạch máu vỡ và thấm máu. Nó kết hợp với vitamin C có thể tăng hiệu quả trị liệu đối với người mắc bệnh máu xấu.
Quýt chứa thành phần chống oxy hóa, có thể tăng cao khả năng miễn dịch, chống sự phát triển của u bướu. Ngoài ra, quýt còn có tác dụng chống lại tia bức xạ của máy tính, trong quýt chứa nhiều vitamin A và beta carotin, có thể bảo vệ da cho những người thường sử dụng máy tính. Đặc tính kỹ thuật của cây quýt Quýt là một trong những cây trồng cho năng suất cao tuy nhiên đòi hỏi phải đảm bảo kỹ thuật từ khâu chuẩn bị đất đến trồng, chăm sóc, bón phân, thu hoạch, vận chuyển…và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác. Bởi vậy, phát triển sản phẩm quýt cần có sự đầu tư hợp lý và loại bỏ những phong tục, tập quán canh tác lạc hậu, kém hiệu quả.
Sau đây là một số đặc tính kỹ thuật của cây quýt. Theo Đỗ Kim Chung và cộng sự (2009), đặc tính kỹ thuật của cây quýt như sau: * Nhân tố về điều kiện tự nhiên Nhiệt độ: Nhiệt độ cần cho sự sinh trưởng của cây quýt từ 12 - 39 độ nhiệt độ thích hợp nhất từ 23 - 29 độ, nơi có nhiệt độ bình quân năm là 150 độ là trồng được quýt; Nước: Lượng mưa hàng năm là 1000 - 1500mm và phân bố đều là trồng quýt tốt. Ánh sáng: Quýt ưa ánh sáng đầy đủ, thiếu ánh sáng cây sinh trưởng kém, 7 khó phân hóa mầm hoa, ít quả dẫn đến năng suất thấp. Cường độ ánh sáng thích hợp 10.
Đất đai: Vùng có tầng đất dày >1m, thoát nước tốt nhất trong mùa mưa và có mực nước ngầm thấp, độ PH 4 - 8 tốt nhất 5,5 đến 6,5. * Nhân tố kỹ thuật Giống: Chọn giống sạch bệnh, những giống cây đã được tuyển chọn tốt. Phân bón: Lượng phân bón hợp lý, đầy đủ và phù hợp trong từng giai đoạn để cây sinh trưởng, phát triển tốt. Lượng phân bón tính cho 1 cây quýt ở các độ tuổi khác nhau Năm Phân chuồng Đạm Lân Kali Vôi bột tuổi (kg/cây) (g/cây) (g/cây) (g/cây) (kg/cây) 1-2 25-30 80-150 100-150 100-150 0,5 4-5 35-40 200-250 150-200 150-250 0,7-0,8 6-7 45-50 300-400 250-300 300-400 1,0 Trên 10 50-60 400-800 350-400 240 Nguồn: Đỗ Kim Chung và cộng sự (2009) Chăm sóc: Thường xuyên làm sạch cỏ và trồng xen các cây khác (cây họ đậu) vào thời kỳ cây chưa khép tán để giữ ẩm, làm đất tơi xốp mặt khác giúp tăng thêm thu nhập từ các cây ngắn ngày đó.
Các cây trồng xen phải cách gốc quýt từ 0,8 - 1m. Tạo tán cây con: Tạo hình trong 2 - 3 năm cắt ngọn để cây phân cành, để lại 3 - 4 tầng cành, các tầng cách nhau từ 50 - 60 cm, mỗi tầng cành chọn lấy 3 cành mập, khoẻ, đều nhau, phân bố đều ra các hướng, những cành chọn để lại hàng năm bấm ngọn cho ra nhiều cành ngang để có tán to và thấp. Cắt tỉa cành đã có quả: Cành quả hàng năm thường cho chồi ngọn và chồi nách lá ở gần ngọn phát triển thành, do đó không được cắt bớt cành nụ. Những cành đã có quả rồi phần lớn năm sau không ra quả nữa, nên cắt bớt 1/3 cho mọc ra cành mới để năm sau ra quả.
Những cành cắt bỏ: Cắt bỏ những cành 8 khô, cành tăm, cành mọc thẳng đứng, cành bị sâu bệnh nặng, những cành mọc dầy để tạo cho tán thoáng, ánh sáng có thể xuyên qua. Đặc điểm quá trình trồng và thu hoạch quýt Đặc điểm quá trình trồng và chăm sóc Quýt được trồng vào hai vụ, vụ xuân trồng vào các tháng 2, 3, 4 còn vụ thu trồng vào các tháng 8, 9, 10. Khi trồng tiền hành bóc hết túi bầu của cây giống, đặt cây thẳng đứng và cao hơn mặt đất ở giữa hố đã đào, lấp đất nhỏ, tơi xốp quanh gốc cây, nén nhẹ cho đất và bầu tiếp xúc với nhau. Tưới nước quanh hố, cách gốc 10 - 20cm đến khi nước tràn trên mặt đất.
Không tưới vào gốc để tránh tình trạng làm hở gốc. Nếu bị hở gốc phải bổ sung đất cho kín bầu. Dùng cỏ khô, rơm rạ tủ vào gốc để giữ ẩm. Khi tủ gốc, phải để hở phần gốc cây để theo dõi sâu bệnh và nấm mốc.
Việc chăm sóc cây quýt bao gồm: Làm cỏ, tưới nước, bón phân, đốn tỉa, đốn tạo hình, đốn duy trì, ngắt hoa, phun các chất điều tiết sinh trưởng, phòng trừ sâu bệnh. Khu bón phân, đối với phân hữu cơ thì đào rãnh quanh tán cây, sâu 20 - 30cm, rộng 30 - 40cm, cho phân hữu cơ, lân, vôi xuống lấp đất lại, tủ rơm rạ. Đối với phân vô cơ thì xới nhẹ đất theo tán cây, rắc phân, tưới nước cho cây để phân ngấm vào đất. Tiến hành tỉa những cành cây sâu bệnh, tạo cho cây thông thoáng, đủ ánh sáng, cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Cắt bỏ những cành khô, cành tăm, cành bị sâu bệnh, cành gãy, cành tược của gốc ghép, tạo điều kiện để lá cây tiếp xúc với ánh sáng. Thường xuyên theo dõi để phòng trừ bệnh nhện đỏ, sâu đục cành, trừ sâu non, rầy chổng cánh, bệnh loét, sâu nhớt, nhện trắng, bọ xít xanh vai nhọn, ngài chích hút, sâu xanh cuốn lá, châu chấu, sâu hại hoa, các loại rệp, rầy xám, ruồi vàng…; bệnh sẹo cam, quýt, bệnh thối nâu, bệnh thâm quả, bệnh muội đen, bệnh virus. Đặc điểm quá trình thu hoạch quýt 9 Quýt được thu hoạch vào các tháng 11, 12 vào ngày quang đãng, khô nắng, tốt nhất thu hoạch quả sau khi sương bốc hơi (khô sương). Vào ngày trời râm, nhiều mây, tiến hành thu quả sau buổi trưa, không được thu hoạch quả vào ngày trời mưa.
Sử dụng kéo thu hoạch có cán tròn để cắt quả, thu hoạch các quả nhỏ hơn trước. Khi thu hoạch một tay giữ quả, tay kia cắt quả với cuống có vài lá. Đưa cành quả gần phía ngực, một tay giữ cành quả, tay kia cắt nhẹ cả chùm với cành mang lá. Đặc điểm khâu tiêu thụ quýt Sản phẩm quýt rất khó bảo quản, do đó việc tiêu thụ cần thực hiện nhanh để tránh bị hư hại, hoặc cần chú trọng khâu bảo quản sản phẩm.
Có nhiều cách bảo quản khác nhau như: Sử dụng thuốc 10 - 40 ppm 2,4D để ngăn ngừa cuống quả khô và rụng. Sử dụng hoá chất Thiabendazole (40% được hoà loãng 500X) phun lên quả 1 - 2 tuần trước thu hoạch hoặc sau thu hoạch, nhúng quả trực tiếp vào dung dịch này trong 3 phút để thay cho phun. Hoặc sử dụng Iminoctodine 25% (hoà loãng 2000X) phun 4 ngày trước lúc thu hoạch, nhúng quả trước khi đóng gói. Giữ quả trong nơi râm mát vài ngày trước khi cho quả vào túi PE dày 0,02 - 0,03mm.
Khi cần bảo quản quả trên 2 tháng, tiến hành gói quả trong giấy phim PE làm thành bao hình trụ trong các ngăn của thùng gỗ hoặc thùng plastic. Chỉ bảo quản với 1 hoặc 2 lớp trong một hộp. Tiến hành sắp xếp các hộp trong phòng bảo quản sao cho duy trì được thông thoáng tốt. Cửa thông gió được để mở trong vài tuần đầu bảo quản.
Trong thời gian bảo quản, cửa sổ được mở vào ban đêm hoặc trong những ngày trời lạnh để làm mát quả. Tiến hành đóng cửa sổ thông gió khi nhiệt độ ban ngày cao. Không để ánh nắng rọi vào phòng bảo quản, nếu phát hiện thấy bất kỳ quả thối thì phải loại bỏ ngay. Phát triển thị trường tiêu thụ quýt 10 1.
Khái niệm Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu. Phát triển là một khái niệm chung song mỗi chủ thể kinh tế, hoạt động kinh tế đều có riêng một tiêu chí phát triển dựa theo khả năng, trình độ và công nghệ của từng chủ thể (Học viên chính trị quốc gia, 2005). Theo Nguyễn Trần Nhật Tiến (2014): Phát triển được hiểu là một thuật ngữ chứa đựng các chỉ tiêu phản ánh kết quả gia tăng, tiến bộ, sau quá trình vận động biến đổi của một hay nhiều hoạt động kinh tế- xã hội trong một giai đoạn, một thời kỳ nhất định.