PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và ý nghĩa nghiên cứu đề tài luận án Phát triển SX, tiêu dùng các SP nông nghiệp nói chung, thực phẩm và rau củ quả nói riêng an toàn, bền vững luôn được xác định là định hướng, chiến lược và mục tiêu trọng tâm phát triển kinh tế xã hội, tái cấu trúc, phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam và từng địa phương trong những năm vừa qua và những năm tiếp theo đến 2030 và 2040. Triển khai định hướng phát triển này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế sâu của ngành và dưới tác động của biến đổi khí hậu, tái lập xu thế bảo hộ SX, TM của các nước lớn và cách mạng công nghiệp 4. Trong bối cảnh đó, bên cạnh những thời cơ (về khả năng mở rộng, phát triển thị trường và khả năng tiếp cận với KHCN SXKD, quản lý hiện đại) cũng tồn tại nhiều thách thức lớn hơn trong thực hành chiến lược KD “định hướng thị trường dựa trên năng lực”, triển khai các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh (SP, DN) và phát triển thị trường phù hợp với vị thế DNNVV ngành nông nghiệp.
Vì vậy các DNNVV ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung, cơ sở SXKD RAT cần thiết và có thể vận dụng mô hình chiến lược, phương thức, giải pháp nào? Để phát triển, nâng cao hiệu quả SXKD và phát triển thị trường luôn là vấn đề lý luận quan trọng cấp thiết cần được giới học thuật, các nhà khoa học chuyên ngành, các nhà quản lý, điều hành thực tiễn quan tâm nghiên cứu triển khai. Trong hơn 10 năm qua, thị trường thực phẩm, RAT Việt Nam luôn tăng trưởng với nhịp điệu khá nhanh (về tổng dung lượng, quy mô và cơ cấu) thuộc nhóm dẫn đầu các nước ASEAN. Tiềm năng tăng trưởng và mức độ hấp dẫn của thị trường RAT Việt Nam đặc biệt là ở các đô thị lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… là chủ đề kéo theo nhiều nghiên cứu tìm kiếm cơ hội SXKD mở rộng xâm nhập phát triển thị trường. Theo đó xác lập các yêu cầu cấp thiết với các DN, OPMSV trong triển khai phát triển đồng bộ danh mục và nâng cao chất lượng SP, năng suất, sản lượng và hiệu quả SXCU; vận dụng phù hợp hiệu quả các công cụ MKT và bán hàng hỗn hợp để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của KH.
Hơn nữa do tính chất và mức độ cạnh tranh ngày càng phức tạp của thị trường và sự thay đổi hành vi KH nên các OPMSV cần quản trị tốt rủi ro và sự hài lòng, lòng trung thành KH để khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh và phát triển ổn định bền vững thị trường. Thị trường hàng tiêu dùng thành phố Hà Nội luôn được đánh giá là thị trường hấp dẫn, tăng trưởng ổn định, mức tăng trưởng khá cao những năm gần đây (kể cả trong đại dịch Covid-19) luôn đạt mức tăng trưởng cao hơn mức tăng bình quân cả nước. Năm 2021 tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 555,4 nghìn tỉ VNĐ và như nhiều dự báo sẽ hồi phục phát triển nhanh hơn trong những năm tiếp theo. Trong đó thị trường ngành hàng lương thực thực phẩm có mức tăng trưởng cao hơn, nhất là thị trường các SP có chất lượng, VSATTP và theo số liệu của Sở Công thương, Sở NN&PTNT, thị trường RAT thành phố về dung lượng tăng bình quân từ 15-20%/năm giai đoạn 2015–2020 và tăng cao hơn những năm tiếp theo (từ 25- 2 30%); đa dạng cơ cấu thị trường theo loại, nhãn hiệu SP; theo tương quan giá với chất lượng SP và chất lượng dịch vụ TM; đặc biệt đòi hỏi cao hơn nhiều về chất lượng VSATTP của SP và chất lượng dịch vụ cung ứng, bán RAT.
Cùng với việc thực hiện quy hoạch, phát triển vùng SX chuyên canh; quá trình đầu tư nâng cấp hạ tầng và nguồn lực SXKD; phát triển phương thức canh tác nông nghiệp RAT tốt và ứng dụng thành tựu KHCN trong SXCU bán RAT một mặt tạo môi trường, điều kiện tiền đề để OPMSV nâng cao sản lượng, năng suất, chất lượng, hiệu quả SXCU và khai thác thời cơ mở rộng xâm nhập phát triển thị trường. Mặt khác cũng đòi hỏi các OPMSV thành phố triển khai đồng bộ giải pháp phát huy các lợi thế, kết quả đạt được và khắc phục các hạn chế bất cập trong phát triển thị trường hiện nay điển hình như: cặp SP thị trường được lựa chọn phát triển, việc đề xuất và định vị giá trị cung ứng cho thị trường thiếu luận cứ khoa học, thực tiễn toàn diện, chưa tạo giá trị cung ứng thị trường đủ lớn, chưa có khác biệt vượt trội; chất lượng triển khai các quá trình SXCU cốt lõi và các công cụ MKT, bán hàng hỗn hợp có tiến bộ nhưng chất lượng triển khai chỉ đạt mức trung bình khá và khá, thấp hơn so với cơ sở FDI hoặc một số chuẩn đối sánh của các nước trong khu vực và có sự phân hóa cao giữa các nhóm loại OPMSV; sản lượng SXCU đáp ứng khoảng 60% tổng nhu cầu RAT thành phố chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu về cơ cấu, chất lượng SP và đặc biệt là cơ cấu, chất lượng dịch vụ cung ứng bán; rủi ro phát triển thị trường được nhận dạng chưa xác đáng, chưa chủ động kế hoạch và phương án xử lý tối ưu các rủi ro; sự hài lòng, tín nhiệm, lòng trung thành KH (chủ yếu do các đặc trưng, chất lượng kĩ thuật của SP RAT), hình ảnh thương hiệu SP chưa định vị rõ nét và mức tăng giá trị cung ứng chưa đáp ứng các mong muốn kỳ vọng của KH. Những hạn chế, bất cập này sẽ tác động mạnh hơn nhiều (so với hiện tại) đến hiệu quả SX và hiệu suất phát triển thị trường của cơ sở trong những năm tới khi mà thị trường RAT thành phố tăng nhanh (tổng dung lượng, cơ cấu, chất lượng VSATTP và chất lượng dịch vụ cung ứng bán), cạnh tranh thị trường khốc liệt với sự xuất hiện mới và hoặc mở rộng xâm nhập của đối thủ cạnh tranh (cơ sở FDI, cơ sở của các địa phương khác) và các SP RAT nhập khẩu. Theo đó, đòi hỏi cấp thiết phải có công trình nghiên cứu chuyên biệt, sâu và toàn diện về lý thuyết phát triển thị trường của DNNVV, OPMSV; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng, giải pháp phát triển thị trường thích ứng với động thái môi trường, thị trường, năng lực SXCU và vị thế của OPMSV thành phố Hà Nội.
Từ những luận giải trên và bối cảnh môi trường KD nhiều biến động chiến lược, thị trường RAT thành phố Hà Nội và Việt Nam cạnh tranh khốc liệt, mức cạnh tranh cao hơn nhiều so với hiện nay nghiên cứu sinh chọn đề tài “Phát triển thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành quản trị kinh doanh để góp phần nâng cao hiệu quả SXKD và phát triển ổn định, bền vững thị trường của OPMSV thành phố Hà Nội đến 2030 và một số năm tiếp theo. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án a. Những nghiên cứu về sản phẩm và sản xuất nông nghiệp rau an toàn Tuỳ thuộc vào mục tiêu an ninh, an toàn lương thực, thực phẩm và nâng cao chất lượng cuộc sống, các quốc gia xác định các định hướng chiến lược, xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn SP, SX nông nghiệp an toàn. Với SXKD RAT gồm các tiêu chuẩn áp dụng toàn cầu (GlobalGAP), cho từng khu vực (EUGAP, AseanGAP…) và của từng quốc gia (JapanGAP, ThaiGAP, VietGAP…).
Theo đó các nghiên cứu khoa học, các chương trình, dự án R&D phát triển SP, SX nông nghiệp an toàn và RAT được thực hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau. Một số công trình điển hình: - Nghiên cứu của Phạm Hải Vũ và Đào Thế An (an toàn thực phẩm nông sản, 2016)[99] đã xác lập qui định hệ thống SX nông nghiệp, tổ chức tiêu thụ và chính sách an toàn thực phẩm của VIỆT NAMvới các SP nông sản. Trong đó chương 5 đã nêu khái niệm điều kiện (nguồn đất, nước, không khí…) và quy trình SX, quy trình sử dụng TBVTV và các tiêu chuẩn VietGAP trong SXKD RAT. Nghiên cứu đã cụ thể hóa các quy định nhà nước về quản lý SX, tiêu thụ các SP nông sản an toàn và là tài liệu cẩm nang cho các nhà quản trị SXKD RAT tại Việt Nam.
- Nghiên cứu của Bello & cộng sự (2014)[3] và nghiên cứu của Đỗ Kim Chung (2021)[67] đã chỉ ra xu thế, điều kiện phát triển nông nghiệp an toàn và nông nghiệp dựa trên công nghệ cao trong điều kiện nhu cầu nông sản của các quốc gia có nhiều thay đổi. Đồng thời chỉ ra xu hướng liên kết chặt chẽ SX nông nghiệp và môi trường (giảm khối lượng nông sản không thân thiện với môi trường, không sử dụng phân bón TBVTV có hại đến môi trường, sức khỏe con người) và điều kiện phát triển cũng như sự tác động của nông nghiệp công nghệ cao đến chất lượng, giá trị SP, hiệu quả SX nông nghiệp ở các nước đang phát triển. - Nghiên cứu của Kromol & các công cộng sự (2010)[4] đã so sánh và chỉ ra hiệu quả SX RAT theo các hình thức SX hữu cơ, SX không dùng thuốc trừ sâu, TBVTV tại các tỉnh phía Bắc Thái Lan, có hiệu quả cao nhất và định hướng phát triển. Một số nghiên cứu kinh nghiệm phát triển SX RAT dựa trên công nghệ cao của một số nước Châu Á điển hình như nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long và Nguyễn Thị Hạnh Nguyên (2022)[92] đã nêu ra kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Một số nghiên cứu thực hành SX nông nghiệp tốt, SX nông nghiệp công nghệ cao và phát triển SX nông nghiệp hữu cơ RAT như: Nguyễn Anh Minh (2015)[98], Nguyễn Thị Mai (2020)[97], Đoàn Xuân Cảnh (2016)[70], Rungsaran và các cộng sự (2015)[56], YanakittKul.P & Auwgrararong (2019)[43], Nguyễn Thị Mai (2021)[101] đã chỉ ra thực trạng những kết quả đạt được, xu hướng và giải pháp phát triển SX nông nghiệp tốt, SX nông nghiệp công nghệ cao và SX nông nghiệp hữu cơ với rau an toàn tại VIỆT NAM và một số nước. 4 - Nghiên cứu của Lê Mỹ Dung (2017)[72], Ngô Minh Hải và Vũ Quỳnh Hoa (2021)[84], Nguyễn Văn Lạc (2022)[96] và một số bài viết về phát triển SXKD, và phát triển SX, SP RAT có chất lượng năng suất hiệu quả cao của quận huyện, vùng SX RAT của thành phố Hà Nội, tỉnh Lâm Đồng, đồng bằng sông Cửu Long.