CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG GIAO SAU LÚA GẠO 1. Tổng quan về thị trường giao sau 1. Khái niệm Thị trường giao sau là một thị trường tập trung có tổ chức cao, chỉ mua bán các sản phẩm dẫn xuất từ thị trường hàng hóa thực thông qua các hợp đồng giao sau. Các thành phần tham gia thị trường giao sau là các nhà đầu cơ, người sẽ chấp nhận rủi ro mà người bảo hiểm rủi ro muốn tránh.
Hầu hết các nhà đầu cơ đều không có ý định thực hiện giao hàng hóa hoặc nhận hàng hóa, nhưng thay vào đó, họ tìm kiếm lợi nhuận từ việc thay đổi giá. Sự tương tác của các hedger và các nhà đầu cơ sẽ tạo ra một thị trường năng động, có tính thanh khoản và cạnh tranh. Các mặt hàng mà ngày nay được giao dịch trên thị trường này bao gồm các sản phẩm nông nghiệp, kim loại, dầu khí, công cụ tài chính, ngoại hối và chỉ số chứng khoán, cho phép người mua/bán tham gia TTGS với những rủi ro đã biết trước. Lịch sử hình thành và phát triển Thị trường giao sau xuất hiện từ thời Trung cổ tại Châu Âu, đó là mối quan hệ được hình thành giữa thương nhân và nông dân.
Vào những năm mất mùa, người nông dân đang có hàng không vội bán ra làm giá cả tăng cao. Ngược lại, vào những năm bội thu giá sẽ bị dìm xuống, gây khó khăn cho người nông dân và gia đình họ. Đối với giới thương nhân, họ cũng bị tác động bởi những rủi ro về giá. Vào những năm bội thu giá có thể thuận lợi, còn những năm khan hiếm có thể gây ra giá cắt cổ.
Để tránh tình trạng đó, thương nhân và người nông dân đã gặp nhau trước mỗi vụ mùa để thỏa thuận giá cả trước cho những sản phẩm mà họ sản xuất ra. Như vậy, rủi ro về giá của cả hai bên đã được giải quyết, họ đã thương lượng loại hợp đồng giao sau, mỗi bên có thể loại trừ rủi ro về giá không ổn định trong tương lai. Thị trường giao sau đầu tiên ra đời tại Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên, do những lý do về chính trị và đầu cơ nên thị trường này sau đó đã dừng hoạt động.
Đến những năm 1840, Chicago nhanh chóng trở thành trung tâm phân phối và vận chuyển của vùng Trung Tây nước Mỹ. Với sự ra đời của máy gặt McCormick trong thời gian này đã làm năng suất sản xuất lúa mì tại Mỹ tăng lên rất nhanh chóng. Nông dân chở lúa mì từ các nông trại vành đai đến Chicago để bán và sau đó phân -4- phối về hướng tây dọc theo đường ray và hồ lớn. Có điều do sản xuất có tính mùa vụ nên phần lớn lúa mì chở đến Chicago vào cuối mùa hạ và mùa thu, vì thế các kho bãi của thành phố không đủ để dự trữ cho những gia tăng tạm thời trong nguồn cung ứng.
Giá cả giảm đáng kể vào thời kỳ thu hoạch khi cung tăng nhưng sau đó giá lại tăng đều đặn. Vào những năm 1848, một nhóm thương gia đã thực hiện bước đầu làm nhẹ bớt vấn đề này bằng cách thành lập Hội đồng thương mại Chicago (CBOT). CBOT ban đầu được tổ chức vì mục đích chuẩn hóa số lượng và chất lượng lúa mì. Ở đó, người nông dân và các thương nhân có thể mua bán trao ngay tiền mặt và lúa mì theo tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng do CBOT qui định Các giao dịch ở CBOT bấy giờ chỉ dừng lại ở hình thức của một chợ nông sản vì hình thức mua bán chỉ là nhận hàng – trao tiền đủ, sau đó thì quan hệ các bên chấm dứt.
Một vài năm sau đó, hợp đồng kỳ hạn đầu tiên được triển khai gọi là hợp đồng đến trước (to-arrive contract), cho phép nông dân có thể đồng ý giao lúa mì vào một ngày trong tương lai với một giá xác định trước. Thỏa thuận này làm cho nông dân không phải chở lúa mì đến Chicago vào thời kỳ thu hoạch nữa nhưng lại có thể cố định được mức giá và ngày mà sau đó lúa mì sẽ được bán. Nhờ đó, người nông dân biết mình sẽ nhận được bao nhiêu cho vụ mùa của mình, còn thương nhân thì biết được khoản lợi nhuận dự kiến. Hai bên ký kết với nhau một hợp đồng và trao một số tiền đặt cọc trước gọi là “tiền bảo đảm”.
Nhưng không dừng lại ở đó, quan hệ mua bán ngày càng phát triển và trở nên phổ biến đến nỗi ngân hàng cho phép sử dụng loại hợp đồng này làm vật cầm cố trong các khoản vay. Và rồi, người ta bắt đầu mua đi bán lại trao tay chính loại hợp đồng này trước ngày nó được thanh lý. Nếu thương nhân không muốn mua lúa mì thì họ có thể bán lại cho người khác cần nó hoặc người nông dân không muốn giao hàng thì họ có thể chuyển nghĩa vụ của mình cho người nông dân khác. Bằng cách này, họ có thể đầu cơ trên giá lúa mì giao dịch trong tương lai mà không phải lo lắng về việc giao nhận hàng và kho chứa lúa mì.
Giá cả hợp đồng lên xuống dựa vào diễn biến của thị trường lúa mì. Nếu thời tiết xấu xảy đến, thì người bán lại hợp đồng đó sẽ thu được nhiều lãi vì nguồn cung hàng đang thấp đi nên giá hợp đồng sẽ tăng; nếu vụ mùa thu được nhiều hơn sự mong đợi thì người bán hợp đồng sẽ mất giá vì người ta có thể trực tiếp mua lúa mì trên thị trường tự do. Cứ như thế, các quy định cho loại -5- hợp đồng này ngày càng chặc chẽ và người ta quên dần việc mua bán hợp đồng kỳ hạn lúa mì mà chuyển sang lập các hợp đồng giao sau lúa mì. Vì chi phí cho việc giao dịch loại hợp đồng mới này thấp hơn rất nhiều và người ta có thể dùng nó để bảo hộ giá cả cho chính hàng hóa của họ.
Từ đó trở đi, những người nông dân có thể bán lúa mì của mình bằng cả 3 cách: trên thị trường giao ngay, trên thị trường kỳ hạn (forward) hoặc tham gia vào TTGS (futures). Đến năm 1865, CBOT hoàn thiện thêm những quy định cụ thể có tính bắt buộc về giao dịch như độ lớn của hợp đồng, chất lượng, phương thức thanh toán, phương thức giao nhận hàng hóa và những quy định về tổ chức và hoạt động khác. Chính vì vậy, thời điểm này được xem là cột mốc đánh dấu sự ra đời một cách khá hoàn chỉnh của thị trường giao sau tại Mỹ Lịch sử phát triển của thị trường giao sau không dừng lại ở đó. Đến năm 1874, The Chicago Produce Exchange được thành lập và sau đó trở thành Chicago Butter and Egg Boad cung cấp cho thị trường bơ, trứng, gia cầm và những sản phẩm nông nghiệp khác.
Vào năm 1898, các nhà bán lẻ trứng và bơ rút lui khỏi thị trường. Tổ chức này được sắp xếp lại và thành Sàn giao dịch Chicago (Chicago Mercantile Exchange-CME) vào năm 1919. Sở giao dịch đã thiết lập các điều luật và quy định để điều hành các giao dịch này. Năm 1920, công ty thanh toán bù trừ được thành lập.
Hiện nay, đây là sàn giao dịch hợp đồng giao sau lớn thứ hai thế giới. Sau đó, nhiều sàn giao dịch đã được thành lập mà tiêu biểu là sàn giao dịch giao sau New York (1979)-đây là một chi nhánh của Sàn giao dịch chứng khoán New York, Bolsa de Mercadorias y Futuros (BM&F) ở Sao Paulo, The London International Financial Futures Exchange (LIFFE), The Swiss Option and Financial Futures Exchange (SOFFEX), The Tokyo International Financial Futures Exchange (TIFFE), The Singapore International Financial Futures Exchange (SIMEX) và The Sydney Futures Exchange (SFE). Ngày nay, thị trường giao sau đã vượt xa khỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu, nó trở thành công cụ tài chính để bảo vệ các loại hàng hóa truyền thống và cũng là một trong những công cụ đầu tư hữu hiệu nhất trong ngành tài chính như lãi suất, chỉ số chứng khoán, ngoại hối, năng lượng và các hàng hóa khác như các sản phẩm dẫn xuất kinh tế (Economic Derivaties). Thị trường giao sau hiện nay hoạt động -6- liên tục thông qua hệ thống Globex nối liền 12 trung tâm tài chính lớn trên thế giới.
Sự thay đổi giá cả của các loại hàng hóa chuyển biến từng giây một và gây ảnh hưởng không chỉ đến nền kinh tế của một quốc gia mà cả khu vực và toàn thế giới. Tên gọi hợp đồng giao sau xuất phát từ thuật ngữ Commodities Futures Contract và vì vậy người ta đặt tên cho thị trường này là Commodities Futures Market hoặc Futures Market. Hiện nay, các tài liệu trong nước có rất nhiều cách gọi cho loại hợp đồng này, cụ thể như hợp đồng Future, hợp đồng Futures, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau. Tuy nhiên, trong bài luận này tôi sử dụng thuật ngữ “thị trường giao sau”, “hợp đồng giao sau” để chỉ loại quan hệ này.
Cấu trúc thị trường giao sau 1. Sở giao dịch Sở giao dịch là nơi tổ chức tập trung để tiến hành mua bán các hợp đồng giao sau. Các giao dịch được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch. Có những Sở giao dịch vẫn còn giữ sàn giao dịch truyền thống nhưng cũng có những Sở giao dịch tự động hóa hoàn toàn nên không còn sàn giao dịch nữa, tuy nhiên hoạt động giao dịch vẫn tập trung trên mạng máy tính của thành viên.
Hàng hóa mua bán trên Sở giao dịch là hàng hóa trong danh mục, có cung cầu lớn và thường xuyên biến động. Sở giao dịch quy định các tiêu chuẩn về loại hàng, lượng hàng, phẩm chất hàng hóa, giá cả, thời gian giao hàng,… Mục đích mua bán ở Sở giao dịch là nhằm bảo hiểm rủi ro và kiếm lợi nhuận do chênh lệch giá. Sở giao dịch là nơi phản ánh sự biến động về mặt giá cả và quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường. Nhờ các thông tin có tại Sở giao dịch mà người tiêu dùng và người sản xuất sẽ có những quyết định đúng hơn về hàng hóa được tiêu thụ, được sản xuất, giúp cho các nhà kinh doanh khi ra các quyết định đầu tư dưới hình thức giao kết các hợp đồng giao sau.
Mỗi Sở giao dịch chỉ giao dịch một số loại hàng hóa nhất định. Do đó, người tham gia thị trường chỉ được phép giao dịch các hàng hóa cho phép trong Sở giao dịch đó.