Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP 1. Doanh nghiệp nông nghiệp và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp 1. Doanh nghiệp nông nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp nông nghiệp Để hiểu khái niệm DNNN, trước hết cần phải bắt đầu từ cái chung, đó là khái niệm Doanh nghiệp.
Chúng ta biết rằng, nền kinh tế quốc dân được cấu thành bởi hàng vạn DN sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho sản xuất và đời sống của xã hội. Có những tổ chức kinh doanh quy mô lớn, sử dụng hàng ngàn công nhân, sản xuất hàng loạt sản phẩm. Nhưng cũng có những tổ chức kinh tế chỉ là một cửa hàng tạp hóa, quầy bán bánh kẹo qui mô nhỏ, chỉ thuê một vài lao động do một cá nhân hay hộ gia đình sở hữu. Những tổ chức đó, dù lớn hay nhỏ, khi tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế thị trường, theo luật DN đều có chung một tên gọi là DN.
DN là một khái niệm được khởi nguồn từ tiếng Pháp “Entreprendre”, có nghĩa là “đảm nhận” hay “hoạt động”. Theo nhiều nhà nghiên cứu, DN (Firm) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Dưới góc độ kinh tế học, DN là một đơn vị kinh doanh hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội nhằm đạt lợi nhuận tối đa và hiệu quả kinh tế cao nhất. DN chính là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định trên thị trường.
Trên thực tế, DN được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như cửa hàng, nhà máy, công ty, hãng, tổng công ty. Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014- DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là phương thức hoạt động của DN. Đó là việc DN thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường để thu lợi nhuận.
8 Ở nước ta, theo Luật DN, DN có các hình thức: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, DN tư nhân. Nếu căn cứ vào qui mô hoạt động để phân loại DN, thì có DN qui mô lớn, DN qui mô vừa và DN qui mô nhỏ. Ở Việt Nam, theo Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11 tháng 3 năm 2018, DN doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn 9 vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Những DN có vốn đăng ký kinh doanh lớn hơn và sử dụng nhiều lao động hơn được gọi là DN lớn.
Tuy nhiên, số DN lớn ở Việt Nam còn tương đối ít. Nền kinh tế chủ yếu là DN nhỏ và vừa. Định nghĩa như trên là để Chính phủ có giải pháp hỗ trợ phát triển cho các DN nhỏ và vừa. Nếu căn cứ theo ngành kinh tế - kỹ thuật để phân loại DN, thì có: DN nông nghiệp, DN công nghiệp và DN dịch vụ.
Người ta còn có thể chia nhỏ mỗi loại DN nêu trên thành các loại DN, ví dụ trong DN sản xuất nông nghiệp có DN nông nghiệp, DN lâm nghiệp và DN ngư nghiệp theo nghĩa rộng hoặc chia theo nghĩa hẹp thì có: DN trồng trọt và DN chăn nuôi. Như vậy, có thể hiểu: Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, tham gia vào toàn bộ thị trường đầu vào và đầu ra, được tổ chức và hoạt động phù hợp với Luật. Đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp Tuy là một đơn vị tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận, nhưng DNNN có những điểm khác biệt so với DN công nghiệp và DN dịch vụ. Cụ thể là: Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp nông nghiệp chậm Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp nông nghiệp chỉ đạt khoảng 2%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp bình quân chung của cả nước là 20 - 25%/năm.
Theo đó, bình quân khoảng 57.000 người dân sống ở khu vực nông thôn mới có 1 doanh nghiệp nông nghiệp, trong khi trên cả nước cứ trên 700 người đã có 10 1 doanh nghiệp. Hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến việc phát triển các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là thiếu các cơ hội đầu tư, kinh doanh, môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi khó triển khai, áp dụng. Số lượng doanh nghiệp nông nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp ít, nguồn vốn đầu tư thấp Số lượng doanh nghiệp nông, lâm nghiệp chỉ bằng xấp xỉ 1% tổng số doanh nghiệp nông nghiệp đang hoạt động. Về mức vốn hoạt động, có khoảng 60% số doanh nghiệp nông, lâm nghiệp hoạt động với số vốn dưới 10 tỷ đồng - quá thấp so với doanh nghiệp các nước trên thế giới và so với nhu cầu thực tế.
Hệ thống máy móc, thiết bị cơ sở vật chất của doanh nghiệp nông nghiệp lạc hậu, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu kinh nghiệm quản lý Các doanh nghiệp nông nghiệp đang sử dụng những công nghệ, hệ thống máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị hàng năm chỉ đạt 5-7% (trong khi cả thế giới là 20%). Các doanh nghiệp chế biến hầu hết có quy mô nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn, khả năng tiếp cận với thị trường, thông tin thấp. Thị trường của các doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu là thị trường trong nước (chiếm tới 94%) trong khi tỷ lệ xuất khẩu chỉ chiếm 6%.
Hệ thống nhà xưởng chế biến và kho tàng cất giữ nông sản của các doanh nghiệp nông nghiệp nước ta sơ sài và tạm bợ, số nhà xưởng kiên cố chỉ chiếm khoảng 30%. Hầu hết các doanh nghiệp vẫn áp dụng các công nghệ cũ, tỷ lệ cơ giới hoá chỉ chiếm trên 10%, số còn lại là sử dụng các trang thiết bị thủ công bán cơ giới. Hầu như chưa doanh nghiệp nào áp dụng các trang thiết bị tự động hoá. Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp Để hoạt động, mọi DN đều phải sử dụng các nguồn lực đầu vào là các yếu tố sản xuất gồm sức lao động và tư liệu sản xuất (kinh tế học hiện nay gọi là lao động, tài nguyên thiên nhiên, tư bản và công nghệ cần thiết cho sản xuất).
Điểm đặc trưng trong hoạt động của DNNN là bộ phận nguồn lực không thể thiếu được và có vai trò hết sức quan trọng là tài nguyên thiên nhiên. Trước hết đó là tài nguyên đất và nước cho sản xuất nông nghiệp; tiếp đến là tài nguyên sinh vật cụ thể (cây, con cụ thể). 11 Với trình độ công nghệ như hiện nay, không có đất thì không thể trồng cấy hoặc chăn nuôi với qui mô lớn như sản xuất hàng hóa được. Nếu các DN thuộc các ngành công nghiệp và dịch vụ muốn tiến hành sản xuất chỉ cần một diện tích đất không nhiều để có mặt bằng hoạt động, thì DNNN phải cần một diện tích đất tương đối lớn để sản xuất.
Tuy một số DN công nghiệp cũng có nhu cầu rất lớn về diện tích đất để sản xuất, như DN khai thác khoáng sản, DN khai thác than, DN khai thác cát., nhưng đó là những nguồn đất có điều kiện tự nhiên đặc biệt. Nó có thể nằm trong lòng đất. Còn với DNNN, nguồn đất được đưa vào sản xuất hầu hết là mặt đất, mặt nước. Nó bao gồm những cánh đồng, cánh rừng, ao hồ, sông suối.
Không có đất thì không thể có sản xuất nông nghiệp. Đất là nguồn lực quan trọng nhất đối với việc sản xuất của nhà nông.