MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hằng ngày của con người,vì rau cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu như: Vitamin, lipit, protein và các chất khoáng quan trọng như: Canxi, phốt pho, sắt,… Cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Ngoài ra rau còn cung cấp một lượng lớn các chất xơ có khả năng làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, là thành phần hỗ trợ sự di chuyển thức ăn qua đường tiêu hóa giúp cho hoạt động co bóp của đường ruột được dễ dàng. Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng trong nước cũng như trên thế giới về khẩu phần ăn của người Việt Nam thì hằng ngày chúng ta cần khoảng 2300 - 2500 kalo năng lượng đề sống và hoạt động.
Để có đủ số năng lượng này nhu cầu rau hằng ngày trung bình cho một người là 250- 300g. Thành phố Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế, chính trị ở khu vực phía Bắc Việt Nam. Với mật độ dân số đông (1.367 người/km2), tổng diện tích tự nhiên là 15.169 ha, trong đó đất nông nghiệp là 5.938 ha chiếm 39%, với dân số toàn tỉnh hiện nay là 1 triệu 143 nghìn người (2010), riêng thành phố Thái Nguyên là 330. Thành phố Thái Nguyên là một thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp trong đó có rau xanh.
Từ nhiều năm nay thành phố đã hình thành vành đai sản xuất thực phẩm trong đó cây rau được coi là sản phẩm quan trọng nhất. Trong xu thế của một nền sản xuất thâm canh, công nghệ sản xuất hiện nay đang bộc lộ những nhược điểm của nó đó là người nông dân đã sử dụng một lượng lớn và không hợp lý các loại phân bón, các hóa chất bảo vệ thực vật, đã gây tồn dư một lượng lớn phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật và tích lũy NO3- độc hại trong môi trường đất và sản phẩm rau xanh. Nitrat (NO3-) là phân đạm dưới dạng ion cung cấp nito cho nhiều loại cây trồng, tuy nhiên nó cũng là mối đe dọa cho sức khỏe con người thông qua việc sử dụng nông sản có chứa hàm lượng cao ion NO3- này. n 2 Nitrat (NO3-) có nguồn gốc từ việc sử dụng phân bón cho cây trồng một cách bất hợp lý như là sử dụng quá nhiều các loại phân bón vô cơ và hữu cơ có chứa đạm, sử dụng ở các thời kỳ cây trồng không cần thiết hoặc sử dụng ở gần thời điểm thu hoạch.
Hiện nay, nhu cầu sống của con người ngày càng tăng cao, việc sử dụng các loại thực phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn đối với sức khỏe là vô cùng quan trọng. Không như nhiều nước khác trên thế giới, rau lưu thông trên thị trường mặc định đã là rau an toàn thì tại Việt Nam chưa đáp ứng được vấn đề này. Mặc khác, sự hiểu biết về thực phẩm rau xanh tại mỗi gia đình, mỗi hộ sản xuất, kinh doanh rau chưa thật sự nhiều. Xuất phát từ thực tế trên và sự cần thiết phải kiểm tra, kiểm soát lượng rau ngay chính tại nơi trồng rau để có thể đảm bảo chất lượng của rau trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ.
Được sự nhất trí của BGH nhà trường, BCN khoa, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS. Nguyễn Thị Lợi, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hàm lượng Nitrat trong rau thương phẩm vụ đông xuân 2013-2014 tại phường Túc Duyên - thành phố Thái Nguyên và rau được sản xuất theo quy trình VietGap tại xã Huống Thượng – huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Xác định được hàm lượng Nitrat trong một số loại rau tại hai cánh đồng rau: + Phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên + Xóm Huống trung - xã Huống Thượng - huyện Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên (VietGap) - Đề suất một số giải pháp để sản xuất rau an toàn, hạn chế tồn dư Nitrat, nâng cao năng suất, chất lượng rau xanh của khu vực - Tìm hiểu tình hình chung về việc sản xuất rau của phường Túc Duyên thành phố Thái Nguyên. - Phục vụ sản xuất rau an toàn tại địa phương - Góp phần bảo vệ môi trường duy trì phát triển bền vững n 3 1.
Yêu cầu của đề tài - Tìm hiểu sơ lược về tình hình cơ bản tại địa phương - Lấy mẫu và phân tích mẫu theo quy chuẩn của ngành - So sánh kết quả nghiên cứu tại Túc Duyên với tiêu chuẩn rau an toàn và với rau sản xuất theo quy trình VietGap tại Huống Thượng - Đưa ra các giải pháp hạn chế tồn dư Nitrat và giải pháp phát triển rau an toàn phù hợp với thực tiễn địa phương 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Xác định được hàm lượng NO 3 trong một số rau thương phẩm - Các số liệu được thu thập, tổng hợp, phân tích tương đối chính xác có thể sử dụng làm căn cứ để đề xuất các giải pháp phù hợp với địa phương 1. Ý nghĩa thực tiễn * Kết quả nghiên cứu sau khi hoàn thành đề tài sẽ cung cấp số liệu để: - Khuyến cáo người trồng rau thay đổi kỹ thuật canh tác và áp dụng các biện pháp trồng rau cho chất lượng rau an toàn.
- Khuyến cáo người tiêu dùng sử dụng rau an toàn và mở rộng mô hình trồng rau an toàn. - Làm cơ sở cho các cơ quan chức năng quan tâm đến vấn đề sản suất rau sạch cho thành phố trong thời gian tới và đề ra giải pháp - Đề tài là một bước tập dượt cho sinh viên tiếp cận với thực tiễn xã hội, nâng cao trình độ nhận thức, có cơ hội vận dụng những điều đã học vào thực tế. - Quá trình thực hiện đề tài, sinh viên được đóng vai trò như một cán bộ tập sự đây là bước đệm giúp sinh viên thu thập kiến thức, chuẩn bị hành trang cho công việc trong tương lai. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Cơ sở lý luận Cây trồng cũng như tất cả các cơ thể sống bình thường khác đều cần thức ăn cho sự sinh trưởng, phát triển. Cây trồng sinh trưởng và phát triển được là nhờ hút chất khoáng từ đất và phân bón, thực hiện quá trình quang hợp từ nước và cacbonic dưới tác động của ánh sáng mặt trời.Trong thành phần của cây trồng có mặt hầu hết các chất hoá học tự nhiên (khoảng 92 nguyên tố), nhưng chỉ có 16 nguyên tố thiết yếu với cây trồng, trong đó có 13 nguyên tố khoáng. Đạm (N), Lân (P), Kali (K) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng lớn được gọi là nguyên tố đa lượng.
Canxi (ca), Magie (Mg), Lưu Huỳnh(S) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng ít hơn nhưng cũng đáng kể gọi là nguyên tố trung lượng Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Mangan (Mn), Đồng(Cu), Bo(B), Molypden (Mo), Clo (Cl) được cây trồng hút/lấy đi với số lượng nhỏ nên gọi là nguyên tố vi lượng. Trong đó đạm là một nguyên tố quan trọng bậc nhất trong các nguyên tố cấu tạo nên sự sống. Đạm có trong thành phần tất cả các protein đơn giản và phức tạp mà nó là thành phần chính của màng tế bào thực vật, tham gia vào thành phần của axit Nucleic (tức AND và ARN), có vai trò cực kỳ quan trọng trong trao đổi chất của các cơ quan thực vật. Đạm còn có trong thành phần của diệp lục tố, mà thiếu nó cây xanh không có khả năng quang hợp, có trong nhân tế bào nơi khư trú các thông tin di truyền.
Do vậy đạm là yếu tố cơ bản của quá trình tổng hợp cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các chất dinh dưỡng khác.Thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của các mô sống, quyết định chất lượng của nông sản nói chung và rau ăn lá nói riêng. n 5 Cây đồng hóa đạm chủ yếu dưới dạng NH4+ và NO3-, NO3- sau khi được hút vào phải khử thành NH3 rồi mới tham gia tổng hợp protein. Việc khử Nitrat có thể thực hiện ở rễ, thậm trí ngay ở tầng lông hút đối với cây ăn quả, ngô, măng tây. Một số cây thân thảo như cà chua, thuốc lá việc khử Nitrat được tiến hành ở tán lá.
Các cây khác quá trình khử bắt đầu từ rễ và kết thúc ở lá. Dư lượng Nitrat trong cây trồng có nguồn gốc từ việc sử dụng phân đạm. Dù bất cứ dạng hợp chất Nito nào, khi bón cho đất cuối cùng cũng chuyển hóa thành dạng Amon mà cây cối có thể hấp thụ được. Nitrat và Amon một phần được cây cối hấp thụ, một phần giải phóng ra ngoài khí quyển dưới dạng Nito tự do và khí Amoniac, phần còn lại tích tụ trong đất và hòa tan trong nước ngầm.
Điều đó có nghĩa rằng lượng Nitrat và Amon dư thừa càng tăng nếu lượng đạm đưa vào càng nhiều. Quá trình khử Nitrat được tiến hành qua nhiều giai đoạn với sự có mặt của các enzyme Nitrat reductaza, hypo Nitrit reductaza và hydroxylamine reductaza cùng với sự có mặt của các nguyên tố khoáng như Mo, Cu, Fe, Mg và Mn. Phản ứng gắn liền với quá trình hô hấp mà chất cho Electron là NADH hoặc với quá trình quang hợp mà chất cho Electron là NADPH. Quá trình khử Nitrat được tiến hành qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: NO3- được khử thành NO2- cần có sự tham gia của enzym Nitrat reductaza.
Giai đoạn 2: NO2- được khử thành NH4+ được xúc tác bởi enzym Nitrit reductaza Dạng NH4+ là dạng cây trồng sử dụng trực tiếp để tạo thành các axitamin. Nhóm NH3 không tồn tại tự do trong tế bào. Qua phản ứng amin hóa NH3 đi vào 3 xetoaxit: Axit pyruvic, axit oxaloaxetic và axit a - xetoglutamic để hình thành các axit amin tương ứng: Axit alamin, axit aspatic và axit glutamic. Các axit amin này kết hợp với nhau trong các riboxom của cytoplasm dưới sự kiểm tra của AND của nhân tế bào tạo thành các protein.
Hydroxylamin hình thành trong quá trình khử cũng có thể phản ứng trực tiếp với xeto axit tạo thành 1 oxim, oxim này sau đó bị khử thành axit amin. n 6 Trong thực tế, việc lạm dụng phân đạm trong sản xuất nông nghiệp ngày càng phổ biến dẫn đến tình trạng cây trồng thừa đạm, trong cây trồng thiếu các điều kiện cho quá trình khử Nitrat để tạo thành các protein mới nên đã dẫn đến hàm lượng Nitrat trong cây tăng. Vì vậy việc đánh giá hàm lượng Nitrat trong rau là rất quan trọng. Cơ sở thực tiễn Trên thực tế hiện nay phường Túc Duyên chưa có cơ sở sản xuất rau an toàn nào.