Tổng quan nghiên cứu
Thị trường cho thuê tài chính tại Việt Nam đóng vai trò là kênh cung ứng vốn trung và dài hạn thiết yếu cho nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cả nước có khoảng 350.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đối mặt với bài toán thiếu hụt nguồn lực đầu tư máy móc. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng 1 năm 2007, nhu cầu đổi mới dây chuyền công nghệ tăng cao, tuy nhiên tốc độ đổi mới trang thiết bị trong nước chỉ đạt từ 5% đến 7% mỗi năm, thấp hơn nhiều so với mức bình quân 20% của thế giới.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ nghịch lý: dù ra đời từ năm 1996, thị trường cho thuê tài chính Việt Nam phát triển rất chậm với chỉ 13 công ty được cấp phép hoạt động, phân bổ tại Hà Nội với 6 đơn vị và Thành phố Hồ Chí Minh với 7 đơn vị. Hơn 70% doanh nghiệp chưa tiếp cận hoặc hiểu đúng về dịch vụ này do rào cản tâm lý chuộng sở hữu và những khoảng trống pháp lý.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của thị trường cho thuê tài chính giai đoạn 2008 - 2009, phân tích các rủi ro thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các định chế tài chính phi ngân hàng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thị trường tài chính Việt Nam, khảo sát thực tế tại các công ty tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế tại Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc.
Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc chứng minh cho thuê tài chính có thể tài trợ từ 85% đến 90% giá trị dự án mà không cần tài sản thế chấp bổ sung, tạo đòn bẩy quan trọng giúp giảm tải áp lực tín dụng trung dài hạn cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết trung gian tài chính và lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu. Theo định chế tài chính hiện đại, tỷ lệ cấu trúc vốn an toàn thường dao động ở mức 30% vốn chủ sở hữu và 70% nợ phải trả. Dịch vụ cho thuê tài chính cho phép doanh nghiệp tối ưu hóa lá chắn thuế thu nhập doanh nghiệp theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06 (ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC), trong đó toàn bộ chi phí lãi thuê và khấu hao tài sản cố định đều được tính vào chi phí hợp lý trước thuế.
Khung phân tích áp dụng các tiêu chuẩn của Ủy ban Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế để định danh hợp đồng cho thuê tài chính thông qua bốn tiêu chí: chuyển giao quyền sở hữu khi kết thúc thời hạn, quyền chọn mua lại tài sản với giá ưu đãi, thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản, và hiện giá của các khoản tiền thuê tối thiểu tương đương với giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm ký kết. Ba khái niệm cốt lõi được mổ xẻ bao gồm: cho thuê tài chính ba bên thuần túy, giao dịch mua và thuê lại nhằm giải phóng vốn lưu động, và nghiệp vụ cho thuê giáp lưng phục vụ nhu cầu vận tải chuyên dụng.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Hiệp hội Cho thuê Thiết bị và Tài chính Hoa Kỳ cùng báo cáo tài chính của các công ty cho thuê tài chính trong giai đoạn 2008 - 2009.
Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu phân tích mẫu khảo sát ngẫu nhiên gồm 1.000 doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế tại Việt Nam kết hợp phương pháp chọn mẫu điển hình đối với các công ty đầu ngành như Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín và Công ty Cho thuê tài chính II thuộc Agribank.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức là nhằm xác định chính xác năng lực nội tại và rào cản môi trường kinh doanh của các định chế tài chính phi ngân hàng. Dữ liệu định lượng được xử lý qua phương pháp so sánh tỷ lệ phần trăm và đối chiếu lịch sử để rút ra quy luật tăng trưởng trong tiến trình hội nhập từ năm 2008 đến năm 2010.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, mức độ thâm nhập thị trường của dịch vụ cho thuê tài chính tại Việt Nam còn rất thấp. Khảo sát 1.000 doanh nghiệp cho thấy hơn 70% đối tượng được hỏi biết rất ít và chưa từng sử dụng dịch vụ, gần 20% hoàn toàn không biết đến kênh cấp vốn này. Trong khi đó, theo số liệu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, có tới 45% doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải huy động vốn từ bạn bè và người thân, 21% tiếp cận ngân hàng thương mại nhà nước, phản ánh dung lượng thị trường tiềm năng chưa được khai phá lên tới 68%.
Thứ hai, quy mô tài chính của các công ty cho thuê tài chính còn nhỏ bé so với hệ thống ngân hàng. Vốn điều lệ bình quân chỉ đạt từ 150 tỷ đến 300 tỷ đồng theo lộ trình Nghị định số 141/2006/NĐ-CP. Cơ cấu danh mục tài trợ mất cân đối nghiêm trọng khi trên 60% hợp đồng tập trung vào phương tiện vận tải đường bộ do tính pháp lý rõ ràng, trong khi máy móc sản xuất công nghệ cao chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn.
Thứ ba, sự phân hóa mạnh mẽ giữa các nhóm công ty. Đơn cử tại Công ty Cho thuê tài chính Sacombank, kết thúc năm 2009 đơn vị này đã ký kết 347 hợp đồng với tổng giá trị tài sản đạt hơn 732 tỷ đồng (tăng 36% so với năm 2008), dư nợ cam kết đạt trên 565 tỷ đồng (tăng 35,5%), cho thấy tiềm năng bứt phá lớn nếu tận dụng được mạng lưới ngân hàng mẹ.
Thứ tư, khoảng cách quá xa so với thị trường quốc tế. Tại Mỹ, doanh số cho thuê thiết bị năm 2007 đạt 625 tỷ USD, chiếm 46,8% tổng doanh số bán tài sản của thị trường tài chính; thị trường Trung Quốc đạt giá trị giao dịch thiết bị 24 tỷ CNY năm 2008 và tài trợ cho 30% đội máy bay thương mại (tương đương hơn 330 máy bay).
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi khiến thị trường nội địa kém phát triển nằm ở khung pháp lý chưa đồng bộ. Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định số 95/2008/NĐ-CP quy định thời gian thu hồi tài sản lên tới 30 ngày kể từ khi có thông báo vi phạm, tạo kẽ hở cho bên thuê tẩu tán thiết bị. Tình trạng hình sự hóa các quan hệ kinh tế dân sự khiến tài sản cho thuê bị kê biên làm tang vật, làm tê liệt dòng vốn của bên cho thuê. Hơn nữa, việc pháp luật chưa công nhận bất động sản là đối tượng cho thuê tài chính đã tước đi cơ hội tài trợ nhà xưởng công nghiệp.
Về mặt dữ liệu trực quan, kết quả nghiên cứu có thể được biểu diễn qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ đổi mới công nghệ giữa Việt Nam (5% - 7%) và thế giới (20%), kết hợp biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu tiếp cận vốn của doanh nghiệp dân doanh với 68% thuộc nhóm tiềm năng cho thuê tài chính.
So với mô hình Hiệp hội Cho thuê Nhật Bản hợp tác liên kết giữa các tập đoàn sản xuất như Hitachi, Toshiba, Mitsubishi hay mô hình dịch vụ khách hàng 24/7 của Japan PNB Leasing tại Philippines, các công ty Việt Nam thiếu sự liên kết chuỗi và chưa tận dụng thương mại điện tử để quảng bá dịch vụ.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế xử lý tài sản thu hồi. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp cần sửa đổi Nghị định số 16/2001/NĐ-CP, rút ngắn thời hạn xử lý thu hồi tài sản từ 30 ngày xuống còn 7 đến 10 ngày đối với các hợp đồng vi phạm nghĩa vụ thanh toán quá hạn trên 90 ngày. Mở rộng phạm vi đối tượng tài sản cho thuê sang bất động sản nhà xưởng phục vụ sản xuất. Mục tiêu giảm tỷ lệ tổn thất do tẩu tán tài sản xuống dưới 2% tổng dư nợ trong giai đoạn 2010 - 2012.
Thứ hai, đa dạng hóa kênh huy động vốn và bình đẳng hóa chính sách ưu đãi. Cho phép các công ty cho thuê tài chính tham gia thị trường liên ngân hàng và phát hành chứng từ có giá, trái phiếu doanh nghiệp trung dài hạn mà không phải xin chấp thuận từng đợt từ cơ quan quản lý. Kiến nghị Chính phủ áp dụng chính sách bù lãi suất 4%/năm cho hợp đồng thuê mua máy móc tương đương như tín dụng ngân hàng thương mại, triển khai ngay từ quý II năm 2010.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác truyền thông, tiếp thị và liên kết chuỗi cung ứng. Hiệp hội Cho thuê Tài chính Việt Nam cần chủ trì chương trình phổ biến kiến thức tài chính cho hơn 350.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, đẩy mạnh mô hình cho thuê ba bên liên kết trực tiếp với các nhà sản xuất máy móc công nghiệp. Phấn đấu nâng tỷ lệ nhận biết thương hiệu ngành cho thuê tài chính lên trên 50% vào năm 2015.
Thứ tư, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ và chuẩn hóa quy trình thẩm định. Ban điều hành các công ty cho thuê tài chính cần đầu tư hệ thống chấm điểm tín dụng tự động và cổng dịch vụ khách hàng trực tuyến, đặt mục tiêu rút ngắn thời gian phê duyệt hồ sơ từ 15 ngày xuống còn 3 đến 5 ngày làm việc trong giai đoạn 2010 - 2011.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, lãnh đạo và giám đốc tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Luận văn cung cấp phương thức tiếp cận nguồn vốn tài trợ máy móc thiết bị lên đến 90% giá trị mà không chịu áp lực thế chấp bất động sản, đồng thời hướng dẫn cách vận dụng chuẩn mực kế toán VAS 06 để tối ưu hóa chi phí thuế.
Thứ hai, ban điều hành các công ty cho thuê tài chính và khối khách hàng doanh nghiệp thuộc ngân hàng thương mại. Tài liệu cung cấp bức tranh phân tích SWOT chuyên sâu, gợi ý mô hình mở rộng chi nhánh và bài học thiết kế sản phẩm tài chính trọn gói từ các định chế quốc tế như Fortis Lease và Japan Leasing Corporation.
Thứ ba, các cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn về những xung đột pháp lý trong xử lý tranh chấp, hỗ trợ quá trình soạn thảo các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật các Tổ chức Tín dụng.
Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về cấu trúc thị trường vốn phi ngân hàng, cung cấp hệ thống số liệu định lượng phong phú về giai đoạn chuyển giao kinh tế 2008 - 2010.
Câu hỏi thường gặp
Cho thuê tài chính khác vay vốn tín dụng ngân hàng thương mại ở những điểm nào?
Vay vốn ngân hàng thương mại thông thường yêu cầu tài sản thế chấp độc lập và mức cho vay chỉ đạt tối đa 70% đến 80% phương án đầu tư. Ngược lại, cho thuê tài chính tài trợ trực tiếp trên tài sản thuê với tỷ lệ từ 85% đến 90% (thậm chí 100%), công ty cho thuê nắm quyền sở hữu pháp lý nên không làm suy giảm hạn mức tín dụng sẵn có của doanh nghiệp tại các ngân hàng khác.
Doanh nghiệp được hưởng lợi ích thuế cụ thể nào khi lựa chọn thuê tài chính?
Căn cứ theo Chuẩn mực kế toán số 06 ban hành năm 2002, bên đi thuê được tính toàn bộ chi phí tiền thuê định kỳ gồm phần vốn gốc tương ứng khấu hao tài sản và phần lãi thuê vào chi phí hoạt động hợp lý trước thuế. Cơ chế này tạo ra lá chắn thuế hiệu quả, giúp hạ thấp thu nhập chịu thuế và nâng cao chỉ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu.
Tại sao phần lớn công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam tập trung vào ô tô?
Ô tô và phương tiện vận tải có giấy chứng nhận đăng ký sở hữu rõ ràng, dễ dàng kiểm soát qua hệ thống định vị và có tính thanh khoản thứ cấp cao trên thị trường. Khi phát sinh nợ quá hạn, bên cho thuê có thể thu hồi và phát mãi nhanh chóng để hoàn vốn, trong khi máy móc dây chuyền chuyên dụng rất khó thẩm định giá và khó tìm người mua lại nếu khách hàng phá sản.
Mức vốn pháp định quy định cho công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam là bao nhiêu?
Theo lộ trình quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ về mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, các công ty cho thuê tài chính thành lập và hoạt động tại Việt Nam bắt buộc phải đảm bảo mức vốn điều lệ thực góp tối thiểu là 100 tỷ đồng đến cuối năm 2008 và nâng lên 150 tỷ đồng trước ngày 31 tháng 12 năm 2010.
Hợp đồng cho thuê tài chính có được phép hủy ngang trước hạn hay không?
Về nguyên tắc pháp lý, hợp đồng cho thuê tài chính là loại hợp đồng không thể đơn phương hủy ngang do bên cho thuê đã bỏ toàn bộ vốn mua tài sản chuyên biệt theo yêu cầu riêng của khách hàng. Trường hợp bên thuê muốn chấm dứt trước hạn phải thanh toán toàn bộ giá trị hiện tại của các khoản nợ gốc còn lại kèm theo một khoản phí bồi thường vi phạm hợp đồng được hai bên thỏa thuận trước.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tín dụng thuê mua, khẳng định cho thuê tài chính là giải pháp gỡ nút thắt công nghệ cho hơn 350.000 doanh nghiệp Việt Nam.
- Đánh giá xác thực hiện trạng thị trường giai đoạn 2008 - 2009 với 13 công ty hoạt động, chỉ ra tỷ lệ tiếp cận dịch vụ của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ đạt khoảng 20%.
- Tổng kết sâu sắc các bài học kinh nghiệm từ mô hình liên kết của Nhật Bản và chính sách quản trị rủi ro sau khủng hoảng tài chính tại Mỹ, Châu Âu.
- Phân tích chi tiết ma trận điểm mạnh và điểm yếu của các doanh nghiệp đầu ngành, tiêu biểu là tốc độ tăng trưởng dư nợ 35,5% của Sacombank Leasing trong năm 2009.
- Đề xuất lộ trình bốn nhóm giải pháp đồng bộ về luật hóa quyền thu hồi tài sản, đa dạng hóa nguồn vốn và xúc tiến thị trường giai đoạn 2010 - 2015.
Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần khẩn trương hoàn thiện khung thể chế trong giai đoạn 2010 - 2012 để tạo tiền đề cho thị trường bứt phá. Doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng hãy chủ động liên kết, khai thác tối đa lợi thế của kênh tài trợ vốn chuyên biệt này nhằm đón đầu làn sóng công nghiệp hóa đất nước.