CHƯƠNG I TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Mặc dù hiện nay, rất nhiều sách báo, tài liệu ở Việt nam ghi nhận rằng hoạt động Cho thuê tài chính là một trong những công cụ tài chính rất mới. Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy. Từ những thời điểm rất xa xưa trong lịch sử phát triển của nhân loại, con người đã sử dụng cho thuê tài chính để phục vụ họat động sản xuất, phục vụ nhu cầu con người mà tiền thân của nó được thể hiện dưới hình thức đơn giản nhất đó là các giao dịch thuê tài sản.
Theo Aristole (năm 384-322 trước công nguyên), khái niệm thuê tài sản đối với người đi thuê là sự cần thiết khách quan của nền sản xuất xã hội “Ý nghĩa của từ “tài sản” nói chung là vấn đề sử dụng nó, chứ không phải vấn đề sở hữu nó. Chính việc sử dụng tài sản mới tạo ra của cải”. Do đó, từ rất xa xưa này, các giao dịch thuê tài sản đã bắt đầu xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh bấy giờ. Các công cụ sản xuất, nô lệ, ruộng đất, trâu bò, lừa ngựa….
nhàn rỗi đã được các nông dân tự do, các thợ thủ công, các người làm nghề tự do khác thuê để phục vụ nhu cầu của mình. Các giao dịch thuê tài sản này đã phát triển rất nhiều đến mức năm 1700 TCN, đức vua Hamnurabi của triều đại Babilon đã ban hành Bộ văn bản luật để quản lý các giao dịch thuê tài sản. Đến đầu thế kỷ thứ XIX, với những bước tiến nhảy vọt của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế hàng hóa đã tạo ra rất nhiều sản phẩm đa dạng. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu và đòi hỏi của con người cũng ngày càng cao hơn.
Chính trong hoàn cảnh này, một cá nhân hay một tổ chức kinh tế, tổ chức hành chính không thể và cũng không cần thiết phải mua sắm đầy đủ các trang thiết bị phục vụ sản xuất, phục vụ kinh doanh, tiêu dùng. Trong bối cảnh đó, các giao dịch thuê tài sản có được những điều kiện đầy đủ để ngày càng phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chủng loại và giá trị. Và một khi phát triển mạnh mẽ như thế, cùng với sự phát triển của xã hội, họat động cho thuê tài sản truyền thống đã không thỏa mãn được một số đòi hỏi, yêu cầu mới của các chủ thể tham gia giao dịch. Và từ đó, cho thuê tài chính (finance leases) đã ra đời bên cạnh hình thức cho thuê tài sản truyền thống (cho thuê vận hành – operating leases).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 13 Khởi xướng và sáng tạo ra hình thức CTTC là công lao thuộc về Công ty United States Leasing Corporation (Hoa Kỳ) vào năm 1952. Vào khoảng năm 1960, CTTC đã có mặt ở Pháp và được thể hiện trong Luật Thuê tài chính của nước này với tên gọi là Credit Bail. Và từ đó, lan rộng sang các nước Châu Âu. Trên thị trường các nước Châu Á, dấu mốc cho hoạt động CTTC được ghi nhận là vào những năm 1970.
Nhìn vào con số phát triển doanh thu của hoạt động CTTC trên thị trường thế giới sẽ thấy được mức thâm nhập sâu rộng của hình thức này vào phát triển kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Nếu năm 1984, tổng trị giá các giao dịch CTTC trên thế giới ước tính khoảng 110 tỷ USD thì 10 năm sau, năm 1994, con số này đã tăng trưởng hơn 300%, đạt mức 356 tỷ USD (xin xem đồ thị biểu diễn 1. 700,00 579,10 600,00 499,00 476,50 511,70 500,00 461,60 Tỷ USD 400,00 356,40 300,00 200,00 110,20 100,00 0,00 1984 1994 2000 2001 2002 2003 2004 Năm Hình 1.1 : Doanh thu CTTC trên thế giới – Nguồn: Hội thảo CTTC Sacombank Leasing cung cấp, tháng 03/2007 [5] Theo con số thống kê, trên thế giới, hoạt động CTTC đã được sử dụng tại hơn 80 quốc gia, trong đó chiếm hơn 75% là các quốc gia phát triển. Mỹ, Nhật, Đức, Ý, Nga và một số nước Châu Âu là những thị trường phát triển mạnh nhất.
Tại Mỹ, cứ 10 doanh nghiệp thì có đến 8 doanh nghiệp sử dụng tín dụng thuê mua (cả thuê vận hành và thuê tài chính) để trang bị tất cả hoặc một phần máy móc thiết bị của họ. Ước tính có khoảng 20 -25% giá trị đầu tư hằng năm của các doanh nghiệp được thực hiện qua hình thức CTTC. So với giá trị tín dụng qua hệ thống các Ngân hàng thương mại thì tỷ trọng tài trợ qua hình thức CTTC TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 14 chiếm khoảng từ 15 -20%. Theo nhận định của các chuyên gia tài chính thì :” Thị trường CTTC được đánh giá là tỷ lệ thuận với trình độ phát triển của quốc gia và sự phát triển của thị trường tài chính”.
Xét về bản chất, CTTC chính là một hoạt động tín dụng trung – dài hạn. Điều này có thể được hiểu đơn giản như sau: Nếu đứng trên khía cạnh tín dụng ngân hàng: Khi khách hàng có nhu cầu tiền mặt để mua sắm TSCĐ, nhà xưởng, vật dụng sinh hoạt tiêu dùng… khách hàng liên hệ NHTM để được tài trợ theo một tỉ lệ nhất định. Nguồn tài trợ của Ngân hàng được giải ngân dưới dạng tiền mặt (thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp hoặc giải ngân tiền mặt cho khách hàng). Sau đó, khách hàng nhận nợ và có nghĩa vụ thanh toán phần nợ này cộng với một khoản lãi vay mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Còn trong trường hợp một giao dịch CTTC: Khi một hợp đồng thuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một khoản vốn. Tuy nhiên, khoản vốn này không được chuyển giao cho khách hàng dưới dạng tiền mặt mà nằm dưới dạng tài sản. Khách hàng nhận tài sản này về để phục vụ cho mục đích SXKD hay tiêu dùng theo đúng nhu cầu của mình. Đồng thời, có nghĩa vụ hoàn trả phần nợ gốc là phần mà công ty CTTC đã phải bỏ ra để có tài sản chuyển giao cho khách hàng sử dụng + khoản lãi vay theo thỏa thuận giữa hai bên.
Như vậy, có thể hiểu nôm na rằng thay vì cho vay bằng tiền thì CTTC là một họat động cho vay bằng tài sản. Trong suốt thời gian diễn ra hoạt động thuê tài chính, thì quyền sở hữu về mặt pháp lý các tài sản thuê vẫn thuộc về công ty CTTC và quyền sử dụng tài sản thuê thì thuộc về bên thuê. Do sở hữu về pháp lý của tài sản nên có sự an toàn nhất định đối với tài sản, khi có sự de dọa với tài sản thì công ty CTTC có quyền thu hồi tài sản của mình ngay lập tức. Đồng thời, tài sản cho thuê cũng đã được công ty CTTC yêu cầu khách hàng thuê mua bảo hiểm.
Đồng thời, trong quá trình sử dụng, bên thuê phải có trách nhiệm bảo trì tài sản. Từ những khía cạnh trên, nhìn chung bên cho thuê đã hạn chế được phần nào rủi ro đối với khoản tín dụng của mình. Chính vì vậy, CTTC được xem là an toàn hơn so với tín dụng ngân hàng thương mại. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.
KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 15 Thị trường CTTC là một bộ phận của thị trường vốn, thị trường này diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính trung, dài hạn thông qua những phương thức giao dịch nhất định. Trong đó, người cung vốn đóng vai trò là người cho thuê cam kết mua tài sản thiết bị theo yêu cầu của bên đi thuê (người sử dụng vốn) và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên đi thuê được quyền sử dụng tài sản thuê trong thời gian thoả thuận của hợp đồng và thanh toán tiền thuê đúng hạn cho bên thuê. Thị trường CTTC tại các nước phát triển được chi làm 3 cấp độ: thị trường lớn, thị trường vừa và thị trường nhỏ.
Sự phân chia thị trường này dựa vào giá trị của các tài sản thuê và được phân định như sau: • Thị trường nhỏ: là thị trường của các loại tài sản có giá trị nhỏ (giá trị giao dịch <50 ngàn USD). Động lực chính cho thị trường nhỏ phát triển là sự thuận tiện trong việc mua bán, bảo trì… • Thị trường vừa: là thị trường thực hiện các giao dịch giá trị từ 50 ngàn – 1 triệu USD, nó là cầu nối giữa 2 thị trường nhỏ và lớn. Thị trường này đáp ứng nhu cầu cụ thể của bên thuê và bị chi phối bởi: sự thuận tiện và các lợi ích về thuế. • Thị trường lớn: là thị trường của các giao dịch từ 1 triệu USD trở lên.
Tập trung vào các loại tài sản có giá trị lớn như: máy bay, tàu thủy, vệ tinh…Thị trường này có độ cạnh tranh rất cao, do có nhiều bên tham gia cho thuê trong khi có ít giao dịch và đồng thời, giao dịch này cũng khá nhạy cảm do giá trị rất lớn. Động lực chính các giao dịch này là lợi ích về thuế. Và thủ tục giấy tờ thực hiện giao dịch này rất phức tạp. Cho thuê tài chính có thể được hiểu như là một hoạt động thuê tài sản giữa bên có tài sản (bên cho thuê) và bên có nhu cầu sử dụng tài sản (bên thuê) thông qua một giao dịch được pháp luật thừa nhận gọi là giao dịch thuê tài chính.
Tùy theo từng thời kỳ và có thể tùy theo mục đích quản lý của từng nhà nước, CTTC được định nghĩa dưới những khái niệm khác nhau. Có thể kể ra ở đây một số định nghĩa sau: ¾ Theo Nghị định số 16/NĐ-CP ngày 2/5/2001 và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 16 “CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận.