chương 1 về qui chế hoạt động bao thanh toán ban hành cùng với quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 và quyết định số 30/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 bổ sung sửa đổi QĐ 1906 là “hình thức cấp tín dụng của tổ chức 1 tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa”. Bảo lãnh: Theo khoản 18, điều 2 Luật các tổ chức tín dụng Viêt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 “bảo lãnh là phương thức cấp tín dụng theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”.3 Căn cứ vào nhu cầu của khách hàng - Tài trợ xuất khẩu: Trường hợp trước khi giao hàng Khi nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đã thỏa thuận kí hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng không phải lúc nào nhà xuất khẩu cũng có sẵn hàng để giao, họ cần mua nguyên vật liệu, trang trải chi phí sản xuất, dự trữ hàng hóa, chế biến sản xuất nhằm đảm bảo quá trình diễn ra liên tục, kịp tiến độ đáp ứng hàng hóa như đã thỏa thuận trong hợp đồng kí kết hoặc cũng có thể người mua và người bán không tin tưởng nhau, cần có sự tham gia đảm bảo của ngân hàng trong quá trình mua bán tham gia thương mại. Thông thường, ngân hàng có thể đứng ra tài trợ vốn cho nhà xuất khẩu theo các phương thức thanh toán như: L/C, nhờ thu, TTR, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng…. Tài trợ vốn theo phương thức thanh toán L/C là phương thức tài trợ rất phổ biến trong trường hợp này, đảm bảo rủi ro cho hai bên đối tác và đặc biệt là nhà xuất khẩu, thường áp dụng trong trường hợp nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu không quen biết và tin tưởng nhau.
Người bán có thể đề nghị ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng dựa trên L/C đã mở để chuẩn bị giao hàng. Ngân hàng không nhất thiết phải tài trợ theo phương thức cho vay từng lần mà có thể tài trợ theo hạn mức tín dụng. Theo Bùi Diệu Anh và các cộng sự (2011), để có được sự tài trợ theo 1 phương thức nào cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiến độ sử dụng tiền cho khâu mua vào và sản xuất, thởi gian sản xuất dài hay ngắn, cách thức bán hàng. Ngân hàng tài trợ đòi hỏi L/C phải có một số điều kiện nhất định, đảm bảo an toàn và có lợi như: một là L/C phải là L/C có sự xác nhận của ngân hàng xác nhận, cho phép đòi tiền ngân hàng hoàn trả hoặc đòi tiền bằng điện khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp tại ngân hàng tài trợ, L/C phải thông báo trực tiếp đến ngân hàng tài trợ để có thể thấy được bề mặt tính chân thật của L/C cũng như chắc chắn nội dung L/C phù hợp, không có rủi ro và L/C phải có khả dụng tại ngân hàng tài trợ… Ngân hàng sẽ chiết khấu ứng trước một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định, và ngân hàng tài trợ luôn phải theo dõi quá trình chuẩn bị, sản xuất giao hàng của nhà xuất khẩu.
Nhà xuất khẩu cũng phải thường xuyên báo cáo và gởi bản sao chứng từ để ngân hàng kiểm tra lần lượt bám sát tránh sai sót xảy ra ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất cũng như nguồn tại trợ của ngân hàng. Trường hợp sau khi giao hàng Sau khi giao hàng hóa, để thu hồi vốn nhanh trong trường hợp chưa nhận được tiền thanh toán từ nhà nhập khẩu. Nhà xuất khẩu cần nguyên liệu vật liệu để sản xuất cho những đơn hàng khác hoặc cần tiền để trang trải lương, chi phí phát sinh cố định. Lúc này họ cần đến nguồn tài trợ của ngân hàng nhằm ứng trước một khoản tiền nhất định khi chưa thu hồi được vốn.
Căn cứ vào nhu cầu trên, ngân hàng phục vụ nhà xuất khầu thường tài trợ thông qua các hình thức sau: Phương thức thanh toán L/C Đây là phương thức không những đảm bảo nhận được thanh toán khi chứng từ phù hợp mà còn là công cụ đảm bảo tín dụng. Trường hợp nếu thư tín dụng yêu cầu trả chậm thì phải mất một khoảng thời gian dài nhà xuất khẩu mới thu hồi lại vốn. Trong khoảng thời gian đó, nhà xuất khẩu có thể yêu cầu ngân hàng chiết khấu một khoản tiền từ chính bộ chứng từ xuất trình. Trên cơ sở chiết khấu, ngân hàng tái tài trợ mốiquan hệ tín dụng đã hình thành trước đó, mà trong quan hệ tín dụng này, người đề nghị chiết khấu là chủ nợ, đã tài trợ vốn thông qua việc bán hàng hóa và ngân hàng có thể mua lại hoặc cho vay theo một tỉ lệ nhất định dựa trên giá trị bộ 1 chứng từ xuất khẩu (Bùi Diệu Anh và các cộng sự, 2011).
Có hai hình thức chiết khấu như sau: Chiết khấu miễn truy đòi: là hình thức mà ngân hàng chiết khấu sẽ mua đứt bộ chứng từ xuất khẩu và miễn truy đòi nhà xuất khẩu khi nhận được thông báo từ chối thanh toán từ ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu. Phương thức này khá rủi ro và lãi suất chiết khấu thường áp dụng cao hơn so với chiết khấu có truy đòi. Các ngân hàng có thể không nhận hoặc nhận được một phần số tiền thanh toán từ phía ngân hàng nhà nhập khẩu do họ đã thanh toán bằng điện chuyển tiền, tiền mặt hoặc cộng dồn cho những lô hàng lần sau nằm ngoài L/C đề tránh được khoản nợ phải trả cho ngân hàng chiết khấu. Tuy nhiên, trường hợp này các ngân hàng ngày càng hạn chế áp dụng đối với bộ chứng từ sai sót, khách hàng đối tác lần đầu trong thương mại, xuất hàng thị trường cảnh báo, rủi ro dẫn đến gây khó khăn trong việc thu hồi vốn.
Chiết khấu có truy đòi: là hình thức ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ và có thể truy đòi nhà xuất khẩu nếu như bị từ chối thanh toán từ phía ngân hàng nước ngoài. Doanh nghiệp xuất khẩu hoàn trả lãi chiết khấu và chi phí chiết khấu sẽ rẻ hơn so với chiết khấu không có truy đòi. Phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ Là phương thức khá an toàn hơn so với điện chuyển tiền nhưng rủi ro hơn so với phương thức thư tín dụng chứng từ. Vì thư tín dụng chứng từ luôn dựa theo hợp đồng L/C qui định và nhận được thanh toán vô điều kiện khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp.
Đối với phương thức nhờ thu khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ bao gồm hối phiếu, chứng từ thương mại cùng với đơn đề nghị chiết khấu tại ngân hàng nhờ thu. Ngân hàng nhờ thu sẽ thực hiện theo đúng chỉ thị của nhà xuất khẩu, lập lệnh nhờ thu, chỉ thị thanh toán và gởi chứng từ theo địa chỉ đề nghị của khách hàng. Để đáp ứng vốn nhanh chóng không phải chờ đợi và đặc biệt đối với bộ chứng từ trả chậm, ngân hàng thường ứng trước cho nhà xuất khẩu bằng việc chiết khấu từng lần hoặc theo hạn mức mà doanh nghiệp đã được cấp trong hợp đồng tín 1 dụng. Mức tài trợ không theo một tỉ lệ cố định mà tùy vào giá trị giao dịch, thị trường và mức độ an toàn của từng giao dịch.
Thông thường ngân hàng đặc biệt quan tâm về uy tín nhà nhập khẩu và xuất khẩu, thị trường nước nhập khẩu có thuộc đối tượng bị cấm vận, cảnh báo rủi ro hay không? tính chất của hàng hóa xuất khẩu có dễ dàng xử lý khi ngân hàng không thu hồi được vốn từ phía nhà nhập khẩu, phương thức thanh toán là trả ngay hay trả chậm. Thông thường, ngân hàng ưu tiên chiết khấu đối với nhờ thu trả ngay, vì trả ngay buộc nhà nhập khẩu phải thanh toán khi nhận bộ chứng từ từ phía ngân hàng thu hộ, trả chậm nhà nhập khẩu chỉ cam kết thanh toán vào một ngày xác định trong tương lai và thậm chí có thể từ chối thanh toán mà ngân hàng thu hộ miễn trách nhiệm trong quá trình đòi tiền. Vì vậy, đối với nhờ thu nhập khẩu trả chậm, ngân hàng thường yêu cầu chiết khấu có truy đòi đối với sản phẩm này. Phương thức thanh toán điện chuyển tiền Theo phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu mà không bị ràng buộc bất kì nghĩa vụ nào.
Ngân hàng sẽ ghi có vào tài khoản nhà xuất khẩu khi nhận được một khoản tiền báo có từ ngân hàng nước ngoài. Phương thức thanh toán này đơn giản hơn nhiều so với nhờ thu, L/C và đồng thời đi kèm với nhiều rủi ro không nhận được thanh toán. Vì vậy, để ngân hàng tài trợ vốn cho nhà xuất khẩu chỉ áp dụng khách hàng có quan hệ mua bán thường xuyên, nhận được khoản tiền đều đặn và đúng hạn từ phía nhà nhập khẩu, thị trường nhập hàng hóa ổn định, quốc gia uy tín. Khi nhà xuất khẩu hoàn thiện bộ chứng từ kèm với hối phiếu đòi tiền và đề nghị một khoản ứng trước từ ngân hàng.
Đối với phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò là nhà trung gian nhưng để chiết khấu thì nghĩa vụ ngân hàng phải kiểm tra tính phù hợp và bề mặt của chứng từ có thỏa điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương đã kí kết, kiểm tra chứng từ vận tải và tờ khai hải quan để chứng minh hàng hóa đã được lên tàu, thông quan trước khi xuất đi nước ngoài. 1 Bao thanh toán Bao thanh toán là hình thức tài trợ đặc biệt bằng việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng đã được người mua và người bán thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Bùi Diệu Anh và các cộng sự (2011), hình thức tài trợ này chỉ nằm trong nhóm sản phẩm ngân hàng tài trợ cho doanh nghiệp sau giai đoạn giao hàng, giúp người bán không phải bận tâm rủi ro thương mại từ phía người mua, vừa giảm khối lượng ghi chép sổ sách và theo dõi thu nợ từ phía người mua. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu (ngân hàng trợ nhà xuất khẩu) sẽ cung cấp các nghiệp vụ như: ứng trước bao thanh toán khoản phải thu dựa trên giá trị phải thu của bộ chứng từ.