Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứ và cơ sở lý luận về hoạt động tài trợ thương mại của ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại tại Ngân hang TMCP Công thương Việt Nam — Chi nhánh Quảng Ninh Chương 4: Giải pháp nâng cao hoạt động tài trợ thương mại tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chi nhánh Quảng Ninh CHUONG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG TAI TRỢ THUONG MAI TẠI NGAN HÀNG THUONG MAI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong thời điểm nền kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển, hoạt động tài trợ thương mại (TTTM) có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ doanh nghiệp có được nguồn tài chính ôn định dé đầu tư vào hoạt động kinh doanh và những khoản vay tín dụng thương mại lâu dài.
Đồng thời giúp doanh nghiệp tăng nhanh vòng quay và cả đồng vốn. Một vài công trình nghiên cứu và bài viết đã dé cập đến hoạt động TTTM như một xu hướng của nền kinh tế, là hướng đi tat yêu của ngành tài chính toản cau, tác giả đã tham khảo một số nghiên cứu nỗi bật, cụ thê qua các nhóm tài liệu như luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ; các bai nghiên cứu khoa học, bai viết. Cụ thê, thông qua luận văn chuyên ngành của Hồ Thị Quỳnh Nga (2015) về nâng cao chất lượng hoạt động TTTM tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam, tác giả nhận thấy Luận văn đã tổng hợp lý luận hoạt động TTTM của NHTM, tìm hiểu, đánh giá thực trạng TTTM trong những năm 2012- 2015 trên tat các các mặt của hoạt động TTTM, dé từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp giúp ngân hàng có thể nâng cao chất lượng hoạt động TTTM. Theo quan điểm của tác giả Chu Ngọc Hà (2017) về tài trợ thương mại của Chính phủ với doanh nghiệp Việt Nam - thực trạng và giải pháp đến năm 2021, bài luận đã tổng quan một số van đề lý luận cơ bản hoạt động TTTM của Chính phủ đối với các doanh nghiệp, phân tích thực trạng, chiến lược TTTM của Chính phủ đối với các doanh nghiệp, đánh giá định hướng TTTM đến năm 2021.
Nhận định của tác giả Lê Thị Hiền (2019) đối với đề tài Tài trợ thương mại đối với các doanh nghiệp nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Quân đội, tác giả đã đưa ra một số lý luận về TTTM đối với người nhập khẩu của các Ngân hàng thương mại. Ngoài ra, luận văn còn phân tích thực trạng hoạt động TTTM đối với các doanh nghiệp nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Quân đội giai đoạn 2013-2017, đánh giá những kết quả đạt được và rút ra nguyên nhân của những bat hợp lý từ đó đề xuất một số giải pháp nham phát triển hoạt động TTTM đối với doanh nghiệp nhập khâu tại Ngân hàng TMCP Quân đội. Bên cạnh đó, tác giả Hoàng Thị Minh Châu (2021), đã nghiên cứu và thực hiện bài viết khoa học về Thực trạng phát triển dịch vụ tài chính bao thanh toán ở Việt Nam. Trong các năm qua, nhiều ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã triển khai nghiệp vụ bao thanh toán.
Số lượng các tô chức tin dụng quan tâm đến dich vu này ngày càng tăng, biểu hiện số lượng các tổ chức được cấp giấy phép cung ứng dịch vụ tăng lên đáng kể. Hiện nay, số lượng các tô chức tín dụng của Việt Nam là thành viên của Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCI) là 8 ngân hàng, trong đó có 4 ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Bài viết của tác giả Hà Anh (2021) với chủ đề nóng "Bang nỗ" tài trợ thương mại đã đưa ra cái nhìn tổng quan hơn. Tài trợ thương mại giúp các doanh nghiệp nhanh chóng có được nguồn tài chính dé đầu tư cho sản xuất kinh doanh thông qua các các khoản vay tín dụng thương mại.
Không chỉ vậy, Tài trợ thương mại còn giúp doanh nghiệp tăng nhanh vòng quay của đồng vốn, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận. Một lợi ích nữa là tài trợ thương mại còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro khi bước ra sân chơi quốc tế. Theo đó, các rủi ro liên quan đến chính trị, lãi suất, tỷ giá, nhất là rủi ro thanh toán. đã được các ngân hàng gánh vác giùm.
Thêm vào đó nhóm nghiên cứu sinh Phương Nga (2021) tìm hiểu về đề tài Go nut thắt cho hệ thống tài trợ thương mại toàn cầu. Kết nối kỹ thuật số được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, đồng thời giúp thúc đây kinh tế toàn cầu. Một hệ thống tải trợ thương mại được cải thiện va tích hợp có thé thu hút các nha đầu tư tổ chức, những người cho đến nay vốn trước đây vẫn chủ yếu đứng ngoai cuộc. Trong khi đó, các don vi cung cấp dịch vụ hậu cần sẽ được hưởng lợi từ việc giảm chi phi cũng như tính bảo mật và hiệu quả cao hơn nhờ các chứng từ thương mại được tiêu chuan hóa.
Các chính phủ và cơ quan quản lý sẽ có quyền truy cập vào nhiều thông tin hơn và thông tin tốt hơn dé hỗ trợ các đơn vị tham gia và từ đó mở ra các kênh huy động vốn. Theo xu thế công nghệ của thế giới, tác giả Dương Quốc Anh (2022) có bài viết khoa học về dé tài Fintech và hoạt động tài trợ thương mại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại châu Á. Các công ty Fintech và công ty công nghệ lớn có một số lợi thé cu thé so với các hoạt động tài chính hiện thời, bao gồm quyền truy cập vào các nguồn dữ liệu và mạng (FSB, 2020a; BIS, 2020; Stulz, 2020). Trong một số trường hợp, điều này có thể cho phép họ thích ứng với những thách thức và nhu cầu riêng của SMEs.
So với các ngân hàng, các công ty Fintech và công ty công nghệ lớn có khả năng sử dụng các nguồn dit liệu và công nghệ thay thế tốt hơn để bồ sung thông tin tín dụng truyền thống. Nhóm tác giả Phạm Đức Anh, Bùi Thị Mén (2022) đã thực hiện dé tài Ap dụng chính sách tai chính tai trợ thương mại hỗ trợ khởi nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam, trong đó tác giả nhận định nguồn vốn kinh doanh là huyết mạch của các doanh nghiệp; đối với DNKN lại càng quan trọng hơn. Đa số DNKN sử dụng nguồn vốn tự có, huy động từ các tô chức cho vay hoặc tiếp cận và khai thác từ phía cộng đồng qua sự hỗ trợ của bạn bè, người thân, nhà đầu tư thiên thần hay nền tảng gọi vốn cộng đồng. Về phía Nhà nước, dé hỗ trợ cho các DNKN phat triển, các giải pháp tài chính hỗ trợ thông qua các công cụ như thu, chỉ ngân sách, chính sách tỷ giá, lãi suất.
một cách hợp lý, tùy vào bối cảnh cụ thé, giúp doanh nghiệp có cơ hội cắt giảm chi phí kinh doanh cũng như tiết kiệm chỉ phí vận hành. Khoảng trỗng của các nghiên cứu Bên cạnh những điểm nổi bật đã dé cập, nghiên cứu trên còn ton tại những khoảng trống. Trong bối cảnh giai đoạn SXKD bị gián đoạn nặng nề do đại dịch Covid kéo dài từ cuối năm 2020 và hệ quả kéo dài đến 2022, nhiều hoạt động kinh tế xã hội bị ảnh hưởng nặng nề, kéo theo hạn chế về thanh khoản, các hoạt động tài trợ thương mại và tài trợ chuỗi cung ứng chiu các tác động không hề nhỏ, nhất là doanh nghiệp trong ngành dét may va nông sản, tiếp tục hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và duy trì việc làm. Theo quan điểm cá nhân của tác giả nhận định phần lớn các nghiên cứu nói trên thường là về tình hình hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, còn hoạt động tài trợ thương mại trong những năm gan đây đã có nhiều thay đổi khi thé giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với những khó khăn chưa từng có từ việc suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của dịch bệnh trên toàn Thế giới.
Vì vậy, vấn đề hoạt động tài trợ thương mại của Ngân hàng thương mại cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện và luận văn là một công trình nghiên cứu hoàn toàn độc lập trong thời điểm hiện tại. Chính vì vậy, sau khi chọn lọc và tiếp thu điểm nỗi bật của các nghiên cứu trên, phân tích và nhận định những khoảng trống, kết hợp với sự hiểu biết về hoạt động TTTM, các giải pháp thúc đây sự phát triển của hoạt động TTTM và kinh nghiệm làm việc thực tế tại VietinBank Quảng Ninh, tác giả lựa chọn đề tài Hoạt động tài trợ thương mại tại Ngân hàng Thương mại cỗ phan Công thương Việt Nam — Chỉ nhánh Quảng Ninh. Cơ sở lý luận về hoạt động tài trợ thương mại tại ngân hàng thương mại 1. Khai niệm tài trợ thương mại của Ngân hàng thương mai Quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới tất yêu dẫn đến sự phân công lao động.
Sự phân công này dan dan vượt ra ngoai phạm vi biên giới quốc gia đưa đến sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá lẫn nhau giữa các công ty thuộc các quốc gia khác nhau, làm cho không những hàng hoá trong nước gia tang mà việc trao đôi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước cũng phát triển. Điều này còn giải quyết được vấn đề sự khác biệt về điều kiện kinh tế giữa các quốc gia như: đất đai, khí hậu, khoáng sản. đưa đến lợi thế cho mỗi quốc gia trong việc sản xuất một số loại sản phẩm nào đó và họ trao đổi với nhau nhằm cân bằng sự dư thừa về loại sản phẩm này với sự thiếu hụt về sản phẩm khác. Đồng thời, việc tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế sẽ giúp các quốc gia có điều kiện tốt nhất dé phát triển kinh tế do áp dụng được những thành tựu về khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế giới, giải quyết được những khó khăn về vốn, về nhân lực, về trình độ quản lý.
Điều đó đòi hỏi phải mở rộng phạm vi trao đổi quốc tế và có như vậy mới thoả mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của mỗi quốc gia. Xuất phát từ yêu cầu trên đã xuất hiện mối quan hệ giữa thị trường trong nước và nước ngoài ngày càng gan bó chặt chẽ với nhau hơn. Các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ đan xen nhau, tạo điều kiện cho nhau và thúc day nhau rat bién chứng.