Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế: "Phát triển tài chính, cấu trúc tài chính và tăng trưởng kinh tế" do nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Thúy Vy thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9.01), hoàn thành năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Mối quan hệ giữa phát triển tài chính (PTTC) và tăng trưởng kinh tế (TTKT) là chủ đề học thuật được quan tâm từ đầu thế kỷ 20, khởi đầu từ nhận định của Schumpeter (1911) về vai trò trung gian phân bổ vốn của hệ thống tài chính. Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm xuyên quốc gia cho đến nay vẫn tồn tại nhiều điểm mâu thuẫn:

  • Một nhóm nghiên cứu ghi nhận tác động tích cực tuyến tính (Bist, 2018; Guru & Yadav, 2019).
  • Một nhóm khác chỉ ra tác động tiêu cực hoặc không có ý nghĩa thống kê (Nili & Rastad, 2007; Naceur & Ghazouani, 2007; Kar và cộng sự, 2011; Narayan & Narayan, 2013).
  • Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, một dòng nghiên cứu mới xuất hiện, phản ánh mối quan hệ phi tuyến, tác động ngưỡng hoặc dạng hình chữ U ngược, ủng hộ giả thuyết "quá nhiều tài chính" (too much finance) gây tổn hại đến tăng trưởng (Rousseau & Wachtel, 2011; Beck, 2014; Law & Singh, 2014; Arcand và cộng sự, 2015; Samargandi và cộng sự, 2015).

Bên cạnh PTTC, vấn đề cấu trúc tài chính (CTTC) — sự kết hợp giữa hệ thống dựa trên ngân hàng (bank-based) và hệ thống dựa trên thị trường (market-based) — tác động như thế nào đến TTKT cũng là trọng tâm nghiên cứu từ thời Goldsmith (1969). Các tranh luận truyền thống thường đối lập giữa hệ thống dựa trên ngân hàng và dựa trên thị trường, hoặc quy về quan điểm dịch vụ tài chính và quan điểm luật & tài chính. Gần đây, chủ nghĩa cấu trúc mới (Lin & Monga, 2010; Cull & Xu, 2013; Demir & Hall, 2017) đề xuất cách tiếp cận động: CTTC được xác định nội sinh theo nhu cầu dịch vụ tài chính của từng giai đoạn phát triển kinh tế thực. Khoảng trống đặt ra là:

  1. Thiếu vắng bộ chỉ số PTTC toàn diện bao hàm cả 4 khía cạnh (độ sâu, tiếp cận, hiệu quả, ổn định) cho cả tổ chức tài chính và thị trường tài chính;
  2. Thiếu sự kết hợp kiểm định phi tuyến đa chiều giữa từng khía cạnh PTTC lên TTKT;
  3. Cần làm rõ CTTC tối ưu phụ thuộc vào mức độ PTTC và kiểm chứng quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới trên các thang thời gian và tần số khác nhau.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích tác động của PTTC lên TTKT và mối quan hệ giữa CTTC với TTKT, từ đó cung cấp các hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Hai mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Kiểm định tác động của PTTC lên TTKT ở cả góc độ tổng thể lẫn tác động riêng lẻ của từng khía cạnh trong PTTC, nhằm xác định khía cạnh nào thực sự tác động đến TTKT.
  2. Kiểm định mối quan hệ giữa CTTC và TTKT thông qua việc xây dựng mô hình tăng trưởng tân cổ điển mở rộng để xác định CTTC tối ưu khi có ảnh hưởng của mức độ PTTC; đồng thời kiểm định quan hệ nhân quả tại các thang thời gian và tần số khác nhau giữa thị trường tài chính (TTTC), trung gian tài chính (TGTC) và TTKT để kiểm chứng quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. PTTC có tác động như thế nào đến TTKT?
  2. Tác động của PTTC lên TTKT được thể hiện thông qua dạng hình nào (hình chữ U hay hình chữ U ngược)?
  3. Tác động của CTTC lên TTKT có bị ảnh hưởng bởi mức độ PTTC hay không?
  4. Quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới có tồn tại hay không? Và CTTC tối ưu là gì?

Hai giả thuyết nghiên cứu chính được xây dựng:

  • Giả thuyết H1: PTTC có tác động tích cực lên TTKT (càng nhiều tài chính, càng nhiều tăng trưởng).
  • Giả thuyết H2: Tác động của PTTC lên TTKT là phi tuyến và tuân theo dạng hình chữ U ngược (quá nhiều tài chính sẽ gây hại cho nền kinh tế).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của PTTC lên TTKT và mối quan hệ giữa CTTC với TTKT.
  • Phạm vi không gian: Mẫu nghiên cứu gồm 33 quốc gia thuộc các châu lục, bao gồm cả nhóm các nền kinh tế phát triển (AE) và nhóm các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi (DE). Luận án loại trừ các nền kinh tế không có thị trường chứng khoán (TTCK) hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin, cũng như loại bỏ các quốc gia kém phát triển thiếu hụt dữ liệu để đảm bảo độ tin cậy.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2017, căn cứ vào tính sẵn có và mức độ đồng bộ của số liệu từ Cơ sở dữ liệu CTTC (FSD) và Cơ sở dữ liệu PTTC toàn cầu (GFDD) của Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu thực nghiệm tiền nhiệm

Luận án hệ thống hóa các bằng chứng thực nghiệm theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm chủ đề Hướng kết luận Các tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản
Tác động tuyến tính của PTTC lên TTKT Tác động tích cực Goldsmith (1969); King & Levine (1993); Bist (2018); Guru & Yadav (2019).
Tác động tiêu cực hoặc không đáng kể Snigh (1997); Nili & Rastad (2007); Naceur & Ghazouani (2007); Kar và cộng sự (2011); Narayan & Narayan (2013).
Tác động phi tuyến của PTTC lên TTKT Tác động ngưỡng / Giả thuyết "quá nhiều tài chính" (hình chữ U ngược) Deidda & Fattouh (2002); Rioja & Valev (2004a, 2014); Rousseau & Wachtel (2011); Cecchetti & Kharroubi (2012, ngưỡng 90% GDP); Law & Singh (2014, ngưỡng 88% GDP); Arcand và cộng sự (2015, ngưỡng 100% GDP); Samargandi và cộng sự (2015); Ibrahim & Alagidede (2018); Panizza (2014, 2018); Swamy & Dharani (2020, ngưỡng 74%–86% GDP cho tín dụng, 51% cho doanh thu cổ phiếu, 65% cho vốn hóa).
Mối quan hệ giữa CTTC và TTKT CTTC không quan trọng / Quan điểm dịch vụ, luật pháp Beck và cộng sự (2000); Levine (2002); Beck & Levine (2002).
Ủng hộ hệ thống dựa trên ngân hàng Pinno & Serletis (2007); Ergungor (2008); Baum và cộng sự (2011).
Ủng hộ hệ thống dựa trên thị trường Yeh và cộng sự (2013); Luintel và cộng sự (2016); Liu & Zhang (2020); Chu (2020).
Bổ sung tương hỗ giữa ngân hàng và thị trường Boyd & Prescott (1986); Tadesse (2002); Blackburn và cộng sự (2005); Oima & Ojwang (2013); Gambacorta và cộng sự (2014).
Tiếp cận chủ nghĩa cấu trúc mới Lin & Monga (2010); Cull & Xu (2013); Demir & Hall (2017).

Tại Việt Nam, luận án điểm lại các công trình của Hoàng Thị Phương Anh và Đinh Tấn Danh (2015), Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo (2016), Chu Khánh Lân và Nguyễn Trần Mạnh Trung (2019), Phạm Dương Phương Thảo (2019). Luận án nhận định các nghiên cứu này chủ yếu dùng các chỉ số đơn lẻ và truyền thống, chưa phản ánh được tính đa chiều của PTTC.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

  1. Khắc phục hạn chế đo lường đơn chiều: Phần lớn nghiên cứu trước dùng một vài biến đại diện (như tín dụng tư nhân/GDP, cung tiền M2/GDP). Bộ chỉ số của IMF (Svirydzenka, 2016) dù đa chiều nhưng thiếu khía cạnh ổn định tài chính và xử lý dữ liệu khuyết thiếu bằng cách gán bằng 0 hoặc loại bỏ chuỗi. Luận án giải quyết bằng việc kết hợp chỉ số IMF và WB, bổ sung chiều ổn định tài chính và sử dụng thuật toán K-Nearest Neighbour (KNN) để xử lý dữ liệu.
  2. Làm rõ tính phi tuyến của từng khía cạnh PTTC: Không dừng lại ở chỉ số tổng hợp, luận án phân rã xem xét tác động phi tuyến của từng khía cạnh riêng biệt (độ sâu, tiếp cận, hiệu quả, ổn định) lên tăng trưởng bằng kiểm định Sasabuchi-Lind-Mehlum (SML).
  3. Mô hình hóa CTTC tối ưu và phân tích theo thang thời gian: Kết hợp kiểm định mô hình tăng trưởng tân cổ điển mở rộng có ảnh hưởng của mức độ PTTC và ứng dụng phép biến đổi Wavelet để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa thị trường, ngân hàng và tăng trưởng trên các tần số ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết kinh tế:

  1. Lý thuyết về PTTC và TTKT:
    • Lý thuyết ban đầu: Bagehot (1873), Schumpeter (1911), Schumpeter & Opie (1934), mô hình cung dẫn xuất (supply-leading) của Patrick (1966).
    • Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển: Solow (1956) kế thừa Harrod (1939) và Domar (1946), biểu diễn hàm sản xuất $Y = F(K, T \times L)$, xem tiến bộ công nghệ là ngoại sinh.
    • Mô hình McKinnon-Shaw (1973): Lập luận tự do hóa tài chính, xóa bỏ kiểm soát lãi suất để tăng tiết kiệm và đầu tư tại các nước đang phát triển.
    • Lý thuyết tăng trưởng nội sinh: Romer (1986), Lucas (1988), mô hình AK của Rebelo (1991) được Pagano (1993) phát triển cho lĩnh vực tài chính; mô hình của Greenwood & Jovanovic (1990), Bencivenga & Smith (1991).
    • Quan điểm phủ nhận: Lucas (1988) cho rằng vai trò của tài chính bị nhấn mạnh quá mức.
  2. Lý thuyết về CTTC và TTKT:
    • Quan điểm dựa trên ngân hàng: Levine (2002), Allen & Gale (2000), Gerschenkron (1962).
    • Quan điểm dựa trên thị trường: Stulz (2001), Levine (2002, 2004).
    • Quan điểm dịch vụ tài chính: WB (2001), Levine (1997, 2002), Demirgüç-Kunt & Levine (2001).
    • Quan điểm luật và tài chính: La Porta và cộng sự (1998), Levine (1999), Rajan & Zingales (1998).
    • Chủ nghĩa cấu trúc mới: Lin & Monga (2010), coi CTTC là một quá trình năng động thay đổi theo lợi thế so sánh và cơ cấu ngành ở từng giai đoạn phát triển kinh tế thực.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Quy trình nghiên cứu định lượng của luận án gồm các bước và kỹ thuật:

Xây dựng chỉ số PTTC mới (29 biến, KNN, PCA)
  1. Xây dựng bộ chỉ số PTTC mới:
    • Tích hợp 4 khía cạnh: Độ sâu (Depth), Khả năng tiếp cận (Access), Tính hiệu quả (Efficiency) và Tính ổn định (Stability) cho cả TCTC và TTTC.
    • Tổng hợp từ 29 chỉ số thành phần; sử dụng phương pháp kết hợp của OECD (2008), Cámara & Tuesta (2014) và Svirydzenka (2016).
    • Xử lý dữ liệu khuyết bằng thuật toán K-Nearest Neighbour (KNN); chuẩn hóa dữ liệu và trích xuất trọng số bằng phân tích thành phần chính (PCA). Kết quả tạo ra 11 chỉ số PTTC mới.
  2. Mô hình kiểm định PTTC lên TTKT:
    • Sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ dữ liệu bảng (PARDL) có tính đến sự phụ thuộc chéo (Cross-sectional Dependence - CD), ước lượng bằng hai phương pháp: Nhóm trung bình gộp (Pooled Mean Group - PMG) và Nhóm trung bình (Mean Group - MG).
    • Kiểm định tác động phi tuyến bằng mô hình đa thức bậc hai; sử dụng kiểm định Sasabuchi-Lind-Mehlum (SML) của Lind & Mehlum (2010) nhằm xác định điều kiện cần và đủ cho đồ thị dạng chữ U hoặc U ngược.
  3. Mô hình kiểm định CTTC và TTKT:
    • Bước 1: Ứng dụng mô hình tăng trưởng tân cổ điển mở rộng theo Liu & Zhang (2020) với tiến bộ kỹ thuật trung tính Hicks (Hicks Neutral Technical Progress) để phân tích tác động của CTTC lên TTKT dưới sự điều tiết của mức độ PTTC.
    • Bước 2: Ứng dụng phép biến đổi Wavelet rời rạc phủ toàn diện (MODWT) / biến đổi Wavelet rời rạc (DWT) để phân tách chuỗi dữ liệu ban đầu thành các thang thời gian và tần số khác nhau (2–4 năm, 4–8 năm, trên 8 năm).
    • Thực hiện kiểm định nhân quả Granger dữ liệu bảng của Dumitrescu & Hurlin (2012) có tính đến phụ thuộc chéo trên từng thang thời gian.
    • Ước lượng mô hình PMG-NARDL (Nonlinear ARDL dữ liệu bảng) nhằm đánh giá sự bất đối xứng và kiểm chứng chủ nghĩa cấu trúc mới trên 2 nhóm quốc gia: phát triển (AE) và đang phát triển/mới nổi (DE).

Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu bảng thứ cấp thu thập từ:

  • Cơ sở dữ liệu PTTC toàn cầu (GFDD) của World Bank;
  • Cơ sở dữ liệu CTTC (FSD) của World Bank;
  • Chỉ số phát triển thế giới (WDI) của World Bank;
  • Dữ liệu tài chính từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án. Tác giả trình bày bối cảnh kinh tế toàn cầu sau các cuộc khủng hoảng tài chính, làm phát sinh nghi vấn về hiện tượng "quá nhiều tài chính" và vai trò thực sự của phát triển tài chính đối với việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững. Đồng thời, chương này giới thiệu sự chuyển biến lý luận từ cách nhìn nhận tĩnh về CTTC (ngân hàng đối trọng với thị trường) sang cách tiếp cận động theo chủ nghĩa cấu trúc mới của Lin & Monga (2010). Trên cơ sở đó, tác giả xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, 2 giả thuyết khoa học, giới hạn phạm vi nghiên cứu tại 33 quốc gia trong giai đoạn 2004–2017, phác thảo phương pháp nghiên cứu và chỉ rõ các đóng góp học thuật cũng như bố cục 5 chương của luận án.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 2 cung cấp nền tảng lý luận chi tiết về TTKT, PTTC và CTTC:

  • Tăng trưởng kinh tế: Trình bày định nghĩa sản lượng, sử dụng GDP và GDP bình quân đầu người, tổng hợp các hàm sản xuất và mô hình tăng trưởng (Bảng 2.1).
  • Phát triển tài chính: Trình bày 5 chức năng cốt lõi của hệ thống tài chính theo Levine (2005) và Demirgüç-Kunt & Levine (2008), bao gồm: (1) tạo thông tin và phân bổ vốn; (2) giám sát và quản trị doanh nghiệp; (3) quản lý, phòng ngừa và đa dạng hóa rủi ro; (4) huy động tiết kiệm; (5) thúc đẩy chuyên môn hóa và đổi mới.
  • Cơ sở lý thuyết PTTC - TTKT: Phân tích lý thuyết Bagehot (1873), Schumpeter (1911), Solow (1956), McKinnon-Shaw (1973), lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer (1986), Lucas (1988), Pagano (1993), Rebelo (1991), Bencivenga & Smith (1991), Greenwood & Jovanovic (1990) (tổng hợp tại Bảng 2.2).
  • Cơ sở lý thuyết CTTC - TTKT: Phân tích quan điểm dựa trên ngân hàng, quan điểm dựa trên thị trường, quan điểm dịch vụ tài chính, quan điểm luật và tài chính, và quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới (tổng hợp tại Bảng 2.3).
  • Lược khảo thực nghiệm: Phân tích các bằng chứng về tác động tuyến tính, tác động phi tuyến của PTTC lên TTKT và mối quan hệ giữa CTTC với TTKT, từ đó định hình khoảng trống nghiên cứu.

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 chi tiết hóa quy trình xử lý dữ liệu và xây dựng các phương trình kinh tế lượng:

  • Xây dựng bộ chỉ số PTTC mới: Dựa trên ma trận chỉ số của IMF (Hình 3.1) và mở rộng thành ma trận chỉ số mới (Hình 3.2), tích hợp khía cạnh ổn định. Bảng 3.1 liệt kê 29 biến thành phần. Ứng dụng thuật toán KNN để điền dữ liệu khuyết và phân tích PCA để xác định tỷ lệ phương sai giải thích.
  • Mô hình tác động của PTTC lên TTKT: Trình bày mô hình PARDL với ước lượng PMG và MG nhằm kiểm soát tính không đồng nhất và sự phụ thuộc chéo giữa các quốc gia. Xây dựng phương trình đa thức bậc hai để thực hiện kiểm định SML nhằm kiểm tra mối quan hệ chữ U hoặc U ngược.
  • Mô hình CTTC và TTKT: Thiết lập phương trình tăng trưởng tân cổ điển mở rộng kết hợp biến tương tác giữa CTTC và mức độ PTTC theo Liu & Zhang (2020).
  • Phương pháp Wavelet và PMG-NARDL: Trình bày kỹ thuật MODWT/DWT để phân rã chuỗi dữ liệu theo các thang tần số thời gian, kiểm định nhân quả Dumitrescu-Hurlin có tính đến phụ thuộc chéo và mô hình PMG-NARDL. Tổng hợp danh mục các biến trong Bảng 3.2.

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương 4 báo cáo các phát hiện thực nghiệm thông qua hệ thống các bảng thống kê và kiểm định kinh tế lượng:

  • Kết quả chỉ số PTTC: Bảng 4.1 trình bày phần trăm phương sai giải thích của các thành phần PCA; Bảng 4.2 cung cấp thống kê mô tả 11 biến chỉ số PTTC mới.
  • Kiểm định tiền đề: Bảng 4.3 báo cáo sự tồn tại của phụ thuộc chéo (CD test); Bảng 4.4 báo cáo kiểm định nghiệm đơn vị dữ liệu bảng (CADF, CIPS) khẳng định tính dừng của các chuỗi dữ liệu; Bảng 4.5 xác nhận quan hệ đồng liên kết Westerlund.
  • Tác động của PTTC lên TTKT:
    • Bảng 4.6 xác định độ trễ tối ưu cho mô hình PARDL; Bảng 4.7 ước lượng tuyến tính PARDL.
    • Bảng 4.8 ước lượng mô hình đa thức bậc hai và Bảng 4.9 báo cáo kiểm định SML: Xác nhận chỉ số PTTC tổng thể có tác động phi tuyến hình chữ U ngược lên TTKT (ủng hộ giả thuyết H2, hiện tượng "quá nhiều tài chính").
    • Phân tích từng khía cạnh: Quy mô của TCTC và TTTC, khả năng tiếp cận của TCTC và hiệu quả của TTTC tác động lên TTKT theo dạng hình chữ U. Tính ổn định của hệ thống tài chính thúc đẩy TTKT. Khả năng tiếp cận của TTTC và tính hiệu quả của TCTC không có tác động đáng kể trong dài hạn.
  • Tác động của CTTC lên TTKT: Bảng 4.10 chỉ ra khi mức độ PTTC càng cao thì CTTC dựa trên thị trường có vai trò thúc đẩy TTKT lớn hơn so với hệ thống dựa trên ngân hàng.
  • Phân tích theo thang thời gian Wavelet: Bảng 4.11 đến 4.13 báo cáo thống kê mô tả, kiểm định nghiệm đơn vị và phụ thuộc chéo theo từng thang thời gian. Bảng 4.14 báo cáo kiểm định nhân quả Dumitrescu-Hurlin: Trong dài hạn (trên 8 năm), ngân hàng có vai trò quan trọng đối với TTKT ở nhóm DE; ở nhóm AE, cả ngân hàng và TTCK đều có vai trò tương đương. Trong ngắn hạn (2–4 năm) ở nhóm DE, tồn tại quan hệ nhân quả một chiều từ hiệu quả ngân hàng đến tăng trưởng và từ tăng trưởng đến quy mô TTCK.
  • Kiểm định PMG-NARDL: Bảng 4.15 chứng minh sự tồn tại của quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới tại nhóm DE (chuyển dịch từ ngân hàng sang thị trường ở mức phát triển cao hơn), trong khi nhóm AE duy trì CTTC ổn định hoặc dựa trên ngân hàng hoặc dựa trên thị trường.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Chương 5 tóm tắt các phát hiện rút ra từ phân tích định lượng. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các hàm ý chính sách cho việc tái định hình hệ thống tài chính quốc gia, kiểm soát quy mô tài chính tránh ngưỡng gây hại, nâng cao tính ổn định hệ thống và điều chỉnh CTTC linh hoạt theo trình độ phát triển của nền kinh tế thực. Chương này cũng nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hoàn thiện phương pháp đo lường PTTC: Xây dựng thành công bộ chỉ số PTTC đa chiều gồm 11 chỉ số mới, tổng hợp từ 29 chỉ số thành phần bao quát cả 4 khía cạnh: độ sâu, khả năng tiếp cận, tính hiệu quả và tính ổn định tài chính cho cả TCTC và TTTC. Bộ chỉ số bổ sung khía cạnh ổn định tài chính mà bộ dữ liệu của IMF (Svirydzenka, 2016) chưa có; đồng thời ứng dụng thuật toán KNN để xử lý khuyết tật dữ liệu thay vì gán giá trị bằng 0 hoặc loại bỏ chuỗi quan sát.
  2. Làm rõ bản chất phi tuyến đa chiều giữa PTTC và TTKT: Luận án chứng minh tác động tổng thể của PTTC lên TTKT mang tính phi tuyến theo dạng hình chữ U ngược, khẳng định giả thuyết "quá nhiều tài chính" sẽ gây hại cho tăng trưởng. Đồng thời, luận án chỉ ra quy luật dạng hình chữ U đối với quy mô TCTC, quy mô TTTC, khả năng tiếp cận TCTC và hiệu quả TTTC (quy mô nhỏ và kém hiệu quả ban đầu cản trở tăng trưởng, nhưng khi vượt ngưỡng phát triển thích hợp sẽ kích thích tăng trưởng). Khía cạnh ổn định tài chính có tác động thúc đẩy tăng trưởng, trong khi khả năng tiếp cận TTTC và hiệu quả TCTC không có tác động dài hạn đáng kể.
  3. Mở rộng mô hình lý thuyết về CTTC và kiểm chứng chủ nghĩa cấu trúc mới: Phát triển mô hình tăng trưởng tân cổ điển mở rộng có yếu tố tiến bộ kỹ thuật trung tính Hicks để chứng minh vai trò gia tăng của cấu trúc dựa trên thị trường khi mức độ PTTC tăng lên. Lần đầu tiên ứng dụng phép biến đổi Wavelet kết hợp kiểm định Dumitrescu-Hurlin và mô hình PMG-NARDL để phân tích quan hệ tài chính - tăng trưởng theo các tần số và thang thời gian khác nhau, xác nhận quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới tồn tại ở nhóm các nước đang phát triển và mới nổi (DE).

Đóng góp về mặt thực tiễn và hàm ý chính sách

  1. Kiểm soát ngưỡng phát triển tài chính: Các nhà hoạch định chính sách cần nhận diện ngưỡng tối ưu của quy mô tài chính nhằm tránh tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức dẫn đến bất ổn định kinh tế, đồng thời ưu tiên nâng cao tính ổn định và tính hiệu quả phân bổ vốn của các trung gian tài chính và thị trường.
  2. Định hình CTTC phù hợp với mức độ PTTC: Khi hệ thống tài chính đạt mức độ phát triển cao hơn, chính sách cần tạo điều kiện phát triển TTCK để phát huy lợi thế của CTTC dựa trên thị trường trong việc phân bổ vốn cho các ngành công nghệ cao và thâm dụng vốn.
  3. Điều chỉnh chính sách theo thang thời gian: Đối với nhóm nước DE, hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong thúc đẩy tăng trưởng dài hạn (từ 8 năm trở lên). Do đó, chính sách ngắn hạn (2–4 năm) cần tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời từng bước mở rộng quy mô TTCK khi kinh tế tăng trưởng.
  4. Thực thi chính sách cấu trúc linh hoạt theo chủ nghĩa cấu trúc mới: Tránh áp đặt rập khuôn mô hình CTTC dựa trên ngân hàng hoặc thị trường một cách cố định. Chính sách tài chính cần biến đổi thích ứng với nhu cầu của nền kinh tế thực trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào nội dung được tác giả trình bày trong luận án:

  • Hạn chế về cỡ mẫu và dữ liệu: Do các chỉ số đo lường trong Cơ sở dữ liệu CTTC (FSD) và Cơ sở dữ liệu PTTC toàn cầu (GFDD) của WB chỉ cung cấp tương đối đầy đủ từ năm 2004 và cập nhật đến năm 2017, phạm vi nghiên cứu bị giới hạn trong giai đoạn 2004–2017. Đồng thời, nghiên cứu phải loại bỏ các quốc gia kém phát triển và các nền kinh tế không có thị trường chứng khoán hoặc thiếu dữ liệu, dẫn đến mẫu nghiên cứu cuối cùng dừng lại ở 33 quốc gia.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khung thời gian nghiên cứu khi các cơ sở dữ liệu quốc tế cập nhật số liệu mới; mở rộng mẫu nghiên cứu sang các quốc gia khác khi thị trường tài chính của họ hoàn thiện việc công bố thông tin; đi sâu vào các yếu tố thể chế đặc thù hoặc dữ liệu vi mô ở cấp độ ngành và doanh nghiệp để làm rõ hơn cơ chế truyền dẫn của từng khía cạnh tài chính.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng chỉ số tổng hợp đa chiều bằng thuật toán KNN và phân tích PCA (Chương 3); quy trình ứng dụng mô hình PARDL với kiểm định phụ thuộc chéo; kỹ thuật kiểm định phi tuyến hình chữ U/U ngược bằng kiểm định SML (Lind & Mehlum, 2010); và ứng dụng phép biến đổi Wavelet (MODWT/DWT) kết hợp kiểm định nhân quả Dumitrescu-Hurlin và PMG-NARDL.
  • Các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và cơ quan quản lý tài chính (Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán): Tham khảo các phát hiện ở Chương 4 và Chương 5 để thiết kế chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng và chiến lược phát triển thị trường vốn phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế, tránh bẫy "quá nhiều tài chính" và xác định lộ trình chuyển đổi cấu trúc tài chính hài hòa.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ chỉ số phát triển tài chính mới của luận án có điểm gì khác biệt so với bộ chỉ số của IMF?

Bộ chỉ số của luận án kết hợp dữ liệu từ cả IMF và World Bank (GFDD và FSD), bao gồm 4 khía cạnh: độ sâu tài chính, khả năng tiếp cận, tính hiệu quả và tính ổn định (với 29 chỉ số thành phần). Điểm khác biệt căn bản là: (i) Bổ sung thêm khía cạnh ổn định tài chính cho cả TCTC và TTTC, điều mà bộ chỉ số của IMF (Svirydzenka, 2016) chưa có; (ii) Sử dụng thuật toán K-Nearest Neighbour (KNN) để xử lý dữ liệu khuyết tật thay vì loại bỏ chuỗi quan sát hoặc mặc định gán giá trị bằng 0 như trong cách xử lý của IMF.

2. Mối quan hệ giữa phát triển tài chính tổng thể và tăng trưởng kinh tế mang hình thái gì trong kết quả kiểm định của luận án?

Kết quả kiểm định kinh tế lượng thông qua mô hình PARDL đa thức bậc hai và kiểm định Sasabuchi-Lind-Mehlum (SML) xác nhận mối quan hệ giữa PTTC tổng thể và TTKT mang dạng hình chữ U ngược. Điều này bác bỏ giả thuyết tăng trưởng tuyến tính H1 và chấp nhận giả thuyết H2, khẳng định sự tồn tại của hiện tượng "quá nhiều tài chính" — khi hệ thống tài chính phát triển vượt qua một ngưỡng nhất định, nó sẽ tạo ra tác động tiêu cực hoặc cản trở tăng trưởng kinh tế.

3. Tác động của từng khía cạnh riêng lẻ trong phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế diễn ra như thế nào?

Không đồng nhất với chỉ số tổng thể, các khía cạnh riêng lẻ thể hiện các quy luật khác nhau:

  • Quy mô của TCTC, quy mô của TTTC, khả năng tiếp cận của TCTC và tính hiệu quả của TTTC tác động lên TTKT theo dạng hình chữ U (khi ở mức thấp sẽ gây cản trở, nhưng khi đạt đến quy mô và mức hiệu quả nhất định sẽ kích thích tăng trưởng).
  • Tính ổn định của cả TCTC và TTTC có tác động tích cực trực tiếp lên TTKT.
  • Khả năng tiếp cận của TTTC và tính hiệu quả của TCTC không thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê lên TTKT trong dài hạn.

4. Kết quả nghiên cứu có ủng hộ quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới về cấu trúc tài chính hay không?

Có. Kết quả ước lượng mô hình PMG-NARDL và kiểm định nhân quả chỉ ra rằng quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới tồn tại rõ nét ở nhóm các quốc gia đang phát triển và mới nổi (DE): Hệ thống tài chính ở giai đoạn đầu dựa chủ yếu vào ngân hàng, nhưng khi nền kinh tế đạt mức độ phát triển cao hơn và thâm dụng vốn nhiều hơn, cấu trúc có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang dựa trên thị trường. Ngược lại, tại nhóm các quốc gia đã phát triển (AE), CTTC mang tính định hình ổn định hoặc dựa trên ngân hàng hoặc dựa trên thị trường.

5. Việc ứng dụng phép biến đổi Wavelet đem lại phát hiện gì về vai trò của ngân hàng và thị trường chứng khoán theo thời gian?

Phép biến đổi Wavelet phân tách dữ liệu thành các thang tần số khác nhau:

  • Trong dài hạn (chu kỳ trên 8 năm) tại nhóm DE, hệ thống ngân hàng đóng vai trò quyết định đối với TTKT; trong khi tại nhóm AE, cả ngân hàng và TTCK đều có mức độ ảnh hưởng tương đương nhau lên TTKT.
  • Trong ngắn hạn (chu kỳ 2–4 năm) tại nhóm DE, chỉ tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ tính hiệu quả của hệ thống ngân hàng lên TTKT, và chiều ngược lại từ TTKT tác động lên quy mô của TTCK.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Thị Thúy Vy đã giải quyết một cách có hệ thống mối quan hệ phức tạp giữa phát triển tài chính, cấu trúc tài chính và tăng trưởng kinh tế thông qua mẫu nghiên cứu 33 quốc gia giai đoạn 2004–2017. Bằng việc xây dựng bộ chỉ số PTTC mới 4 chiều tích hợp khía cạnh ổn định và áp dụng đồng bộ các kỹ thuật kinh tế lượng chuyên sâu (PARDL, kiểm định SML, biến đổi Wavelet và PMG-NARDL), công trình đã chứng minh tính chất phi tuyến hình chữ U ngược của PTTC tổng thể đối với tăng trưởng, đồng thời làm rõ sự chuyển dịch CTTC tối ưu theo mức độ phát triển tài chính. Các kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định sự tồn tại của quan điểm chủ nghĩa cấu trúc mới tại các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, mang lại cơ sở khoa học xác đáng cho việc hoạch định chính sách tài chính vĩ mô theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thực.