phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển nuôi tôm. Thiết kế nghiên cứu. Thực trạng phát triển nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Trà Vinh thời gian qua.
Phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển nuôi tôm từ kết quả nghiên cứu. Các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển nuôi tôm tỉnh Trà Vinh thời gian tới. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM 1. Cơ sở lý luận về phát triển nuôi tôm 1.
Một số khái niệm về phát triển nuôi tôm 1. Sơ lược về tôm Ngành: Arthropoda, Lớp: Crustacea, Bộ: Decapoda, Họ:Penaeidea, Giống: Litopenaeus, Loài: Litopenaeus vannamei, Boone 1931 (Tạ Khắc Thƣờng, Nguyễn Trọng Nho & Lục Minh Diệp (dịch), 2006). Tôm là loài động vật ăn tạp thiên, tôm sử dụng đƣợc nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù hợp từ mùn bã hữu cơ đến các động thực vật thủy sinh, phổ thức ăn rộng, cƣờng độ bắt mồi khỏe (FAO, 2006). Đặc điểm sinh học của tôm a.
Tôm sú: là loài động vật máu lạnh, rất mẫn cảm với dịch bệnh, đặc biệt là khi thời tiết và mội trƣờng sống thay đổi thất thƣờng. Chúng có tập tính hoạt động và ăn nhiều hơn vào ban đêm. Tùy thuộc vào tầng nƣớc, độ đục, thức ăn mà màu sắc cơ thể của tôm là khác nhau từ màu xanh lá cây, nâu, đỏ, xám, xanh. Tôm sú có lƣng xen kẽ giữa màu xanh hoặc màu đen và màu vàng.
Điều kiện sống của tôm sú ở nhiệt độ từ 18 – 30 độ C. Khi nhiệt độ quá giới hạn chịu đựng thì tôm sẽ bị rối loạn sinh lý và chết (với các biểu hiện nhƣ cong cơ, đục cơ, tôm ít hoạt động, ngừng ăn, tăng cƣờng hô hấp). Tùy vào từng giai đoạn phát triển mà độ mặn thích hợp cho tôm sú là khác nhau. Độ mặn ảnh hƣởng đến độ kiềm, độ pH, khả năng sinh trƣởng của tôm nuôi.
Nếu độ mặn vƣợt ra ngoài giới hạn thích ứng của tôm sẽ gây ra các phản ứng sốc cho cơ thể, làm giảm khả năng kháng bệnh của chúng. Trong ao nuôi tôm, độ kiềm giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ đệm của hệ sinh thái ao nuôi – Đây đƣợc xem là chỉ tiêu quan trọng các tác dụng làm giảm sự biến động của pH trong nƣớc, hạn chế tác hại của các chất độc có sẵn trong nƣớc (Nguyễn Thanh Phƣơng & Trần Ngọc Hải, 2009). Tôm thẻ chân trắng: phân bố ở vùng ven bờ phía đông Thái Bình Dƣơng và đã đƣợc di giống nuôi ở nhiều nƣớc Đông Á và Đông Nam Á nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam,. Tôm thẻ chân trắng là một loaị ăn tạp 8 thiên về động vật, phổ thức ăn rộng, khả năng bắt mồi khỏe, tôm có khả năng sử dụng đƣợc nhiều loại thức ăn với kích cỡ phù hợp từ bùn bã hữu cơ đến các động vật thủy sinh nhƣng không có nhu cầu nhiều đạm nhƣ tôm sú.
Để có thể tiết kiểm đƣợc chi phí nuôi, ngƣời nuôi có thể thay thế thức ăn chăn nuôi cao cấp giá thành cao bằng nguồn thức ăn thực vật. Tôm là loài không chủ động ra ngoài kiếm ăn vào ban ngày, ƣa hoạt động mạnh về đêm, tuy nhiên trong môi trƣờng nuôi nhân tạo, nếu ban ngày cho ăn tôm sẽ vẫn bắt mồi bình thƣờng, nguyên nhân là do bị kích thích bởi thức ăn ở cự li gần (Nguyễn Thanh Phƣơng & Trần Ngọc Hải, 2009). Các mô hình nuôi tôm Hiện nay, có nhiều mô hình nuôi tôm đang đƣợc áp dụng, mỗi mô hình nuôi ngoài các đặc tính kỹ thuật chung thì còn có tính đặc thù theo vùng sinh thái. Hình thức nuôi tôm đƣợc phân chia thành quảng canh, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh.
Một số hình thức nuôi cũng đƣợc định nghĩa trong tiêu chuẩn ngành thuỷ sản ở Việt Nam. - Nuôi quảng canh: hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn tự nhiên trong ao. Mật độ tôm nuôi thƣờng thấp do phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên trong ao, diện tích ao nuôi thƣờng lớn (gọi là đầm nuôi) để đạt sản lƣợng cao. Mô hình này có ƣu điểm là chi phí vận hành thấp vì không tốn chi phí giống và thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch lớn bán đƣợc giá cao, cần ít lao động cho một đơn vị sản xuất và thời gian nuôi thƣờng không dài (Bộ NN & PTNT, 2009).
Hình thức này có năng suất và lợi nhuận thấp, cần diện tích ao nuôi lớn để tăng sản lƣợng nên vận hành và quản lý khó, nhất là ở các ao đầm tự nhiên có hình dạng rất khác nhau (Nguyễn Tài Phúc, 2005). - Quảng canh cải tiến: đặc điểm là mùa vụ nuôi quanh năm, diện tích lớn hơn 1 ha, năng suất nhỏ hơn 300kg/ha/năm; sử dụng con giống tự nhiên kết hợp với thả giống bổ sung, mật độ thả giống nhỏ hơn 2 con/m2, không cho ăn, chỉ gây màu nƣớc (nếu cần); thu hoạch theo phƣơng pháp thu tỉa thả bù. Ƣu điểm của mô hình này là chi phí vận hành thấp có thể bổ sung con giống tự nhiên thu gom hay sinh sản nhân tạo, kích cở tôm thu hoạch lớn bán giá cao, cải thiện năng suất của đầm nuôi. Nhƣợc điểm là phải bổ sung con giống lớn để tránh hao hụt do địch hại trong ao nhiều, hình dạng và kích cỡ ao theo dạng QC nên quản lý khó khăn.
Năng suất và lợi nhuận vẫn còn 9 thấp. Ngoài ra vẫn còn có hình thức quảng canh cải tiến nhƣng đƣợc vận hành với những giải pháp kỹ thuật cao hơn nhƣ: Ao đầm nuôi nhỏ, xây dựng ao khá hoàn chỉnh (mƣơng, bờ bao, cống…) mật độ thả cao (có thể đến 7 con/m2) và quản lý chăm sóc tốt… Mô hình nuôi tôm sú luân canh với trồng lúa ở vùng ven biển là một ví dụ của hình thức nuôi quảng canh cải tiến (Nguyễn Thanh Phƣơng & Trần Ngọc Hải, 2009). - Nuôi bán thâm canh: Là hình thức nuôi dựa chủ yếu vào nguồn thức ăn từ bên ngoài, có thể là kết hợp với thức ăn tƣơi sống hay thức ăn viên. Theo tiêu chuẩn ngành thủy sản Việt Nam 2000, mật độ thả dao động từ 8-10 con/m2.
Để có thể chủ động trong quản lý ao, diện tích ao nuôi nhỏ từ 0,2-0,5 ha, đƣợc xây dựng hoàn chỉnh và có đầy đủ trang thiết bị nhƣ sục khí, máy bơm,. - Nuôi tôm thâm canh: Là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn viên bên ngoài, hức ăn tự nhiên không quan trọng. Theo tiêu chuẩn ngành thuỷ sản Việt Nam 2002, mật độ thả cao từ 25-40 tôm bột/m2. Diện tích ao nuôi từ 0,5–1 ha, tối ƣu là 1 ha.
Ao đƣợc xây dựng rất hoàn chỉnh, có trang bị đầy đủ các phƣơng tiện máy móc, cấp và tiêu nƣớc hoàn toàn chủ động, có điện và giao thông thuận lợi,. nên dễ quản lý và vận hành. Nhƣợc điểm của mô hình này là kích cỡ tôm thu hoạch nhỏ (30-35 con/kg), giá bán thấp, chi phí vận hành cao, lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm thấp. khí,…), kỹ thuật vận hành và quản lý ao nuôi.
Tuy nhiên, ngay trên một ao nuôi, việc vận hành cũng có khác nhau về mức độ thâm canh, vụ nuôi chính (vụ mùa khô) có thể vận hành theo phƣơng thức TC nhƣng sang vụ nuôi phụ có thể vận hành theo phƣơng thức BTC. Cách làm này vừa sẽ hạn chế những rủi ro và tăng hiệu quả của trại (Nguyễn Thanh Phƣơng & Trần Ngọc Hải, 2009). - Nuôi công nghiệp (nuôi siêu TC) là hình thức nuôi tiên tiến nhất hiện nay. Phƣơng thức nuôi áp dụng kết hợp giữa sản xuất công nghiệp với kỹ thuật nuôi TC hiện đại.
Hình thức nuôi này đã phần nào thoát khỏi sự phụ thuộc thiên nhiên và cho phép tạo ra các điều kiện sống tốt nhất có thể cho đối tƣợng nuôi về các mặt môi trƣờng sống, giống, thức ăn, chủ động phòng dịch. Đây là hình hình thức nuôi có ƣu thế vƣợt trội khi xét về năng suất, quy mô, chất lƣợng và hiệu quả. Tuy nhiên, khó khăn khi áp dụng hình thức nuôi này là ngƣời nuôi phải làm chủ kỹ thuật nuôi hiện 10 đại, vốn đầu tƣ ban đầu lớn và phải có thị trƣờng đủ lớn. Đây là những trở ngại mà các nông hộ nuôi tôm ở Việt Nam khó vƣợt qua (Trần Khắc Xin, 2014).
Phát triển Phát triển là quá trình vận động tiến triển theo hƣớng tăng lên ở mọi lĩnh vực, trong đó có sự tăng lên cả về chất và lƣợng thay đổi về thể chế, tổ chức, chủng loại, thị trƣờng (Fajado T. Phát triển theo phạm trù triết học là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật. Quá trình phát triển diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đƣa tới thay thế cái cũ bởi cái mới ra đời. Theo Hollis Chenery and T.
Srinivasan (1988), sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về mặt lƣợng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đƣờng xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dƣờng nhƣ sự vật ban đầu nhƣng ở cấp độ cao hơn. Phát triển có nghĩa là cải thiện một số yếu tố thành phần hay cả một hệ thống. Theo nghĩa rộng, phát triển là một khái niệm đa chiều bởi trong bất kỳ một hệ thống phức tạp nào đƣợc cải thiện theo cách này đều có thể xảy ra ở các bộ phận khác với cách khác, lực lƣợng khác, tốc độ khác. Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống này có thể một bộ phận này sẽ tạo ra sự bất lợi cho sự phát triển của các bộ phận khác.
Vì thế, khi đo lƣờng sự phát triển cần phải xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau (Lorenzo G. Phát triển nuôi tôm Phát triển nuôi tôm là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt hoạt động nuôi tôm tại một địa phƣơng hoặc quốc gia trong những thời kỳ nhất định. Là quá trình gia tăng sản lƣợng, cũng nhƣ giá trị của sản phẩm tôm nuôi, cải thiện thu nhập ngƣời nuôi, gia tăng hiệu quả sản xuất. Trên cơ sở gia tăng các nguồn lực phục vụ cho nuôi trồng, chuyển biến về chất lƣợng sản phẩm cũng nhƣ chất lƣợng của nguồn lực đảm bảo cho hoạt động nuôi tôm (J.
Stephen Hopkins; Paul A. Sandifer and cg, 1995). Từ đó cho thấy rằng, PTNT đƣợc xem xét ở cả khía cạnh chiều rộng và chiều sâu, phát triển cần phát triển theo cả chiều rộng (là sự tăng về lƣợng) lẫn chiều sâu (tăng lên về chất) (Bhattacharya, D.