Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 1. Một số khái niệm liên quan về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện sớm nhất của loài người, được coi là ngành sản xuất cơ bản của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2002). Có hai quan niệm về nông nghiệp: Nông nghiệp theo nghĩa hẹp chỉ gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp (trồng rừng và nuôi rừng, khai thác gỗ và lâm sản, thu nhặt rừng và dịch vụ lâm nghiệp), thủy sản (nuôi trồng, đánh bắt và dịch vụ thủy sản).
Như vậy, trong phạm vi đề tài của mình tác giả tiếp cận vấn đề nông nghiệp theo nghĩa rộng. Phát triển nông nghiệp Lịch sử phát triển ngành nông nghiệp đã trải qua hàng ngàn năm và cho đến nay, đây vẫn là ngành đóng vai trò vô cùng quan trọng, là nền tảng đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội của mọi quốc gia trên thế giới, vì vậy phát triển nông nghiệp là một tất yếu khách quan. Phát triển nông nghiệp là quá trình thay đổi về mọi mặt của nền kinh tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Trong thời gian qua, quá trình vận động của ngành nông nghiệp được chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang sử dụng máy móc và công nghệ hiện đại; chuyển đổi từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa chất lượng cao và tham gia vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu; phát triển nông nghiệp sạch, 11 nông nghiệp đô thị, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao,.
hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững. Công nghệ cao (CNC) CNC không còn quá xa lạ, đã và đang có sự lan tỏa đến tất cả các ngành trong nền kinh tế, làm chuyển hóa các hoạt động kinh tế ra khỏi các nguồn lực truyền thống. Hiện nay, thuật ngữ công nghệ cao (Hightech) đang được sử dụng rộng rãi không chỉ trong ngành nông nghiệp mà còn ở các ngành khoa học, công nghệ khác. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm CNC, tuy nhiên, đều có điểm chung là nói đến những công nghệ hay một kỹ thuật hiện đại, tiên tiến được áp dụng vào quy trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng cao, giá thành hạ.
Theo Luật Công nghệ Cao (2008): “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có” (Quốc hội, 2008). Theo Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2003 của Chính phủ ban hành Quy chế khu công nghệ cao, khái niệm liên quan đến công nghệ cao được hiểu như sau: “Công nghệ cao là công nghệ được tích hợp từ các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, có khả năng tạo ra sự đột biến về năng suất lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa, hình thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng” (Chính phủ, 2003). Như vậy, có thể khái quát lại: CNC là những công nghệ cho phép sản xuất với năng suất cao và sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ. Nghĩa là CNC có thể mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn từ một nguồn vốn và lao động.
Trong bản thân CNC cũng cho thấy đã bao hàm “ba cao” đó là: Hiệu quả kinh tế cao, giá trị gia tăng cao và mức độ thâm nhập thị trường cao. Có thể thấy từ các khái niệm trên vai trò của CNC trong phát triển nông nghiệp là rất quan trọng. Chính nhờ CNC đã đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng các yếu 12 tố đầu vào như vốn, lao động, đất đai, giống, phân bón,… góp phần làm tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra và bảo vệ tài nguyên, hạn chế được những rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó sẽ đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp CNC. Nông nghiệp công nghệ cao Quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn: Từ nền nông nghiệp theo phương thức quảng canh tái sản xuất mở rộng kéo dài trong nhiều thập kỷ, sang nền nông nghiệp thâm canh và sản xuất hàng hóa lớn dựa trên nền tảng của sự phát triển khoa học và công nghệ.
Trong thời gian trước đây, sự tăng trưởng của nông nghiệp chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ và tăng các yếu tố nguồn lực đầu vào như dựa khá nhiều vào sức lao động, tài nguyên thiên nhiên và hóa chất trong sản xuất,. thì ngày nay các điều kiện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đang trở nên khó khăn hơn. Vì thế, cần có giải pháp để tạo ra nhiều giá trị kinh tế hơn mang lại hiệu quả cao hơn cho nông dân và người tiêu dùng đồng thời sử dụng ít hơn tài nguyên, nhân công và hóa chất độc hại. Chính vì vậy, việc tiến hành sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (UDCNC) là xu thế tất yếu nhưng trước hết cần đặt trong mối quan hệ so sánh với nông nghiệp thông thường để thấy được điểm vượt trội và hiểu rõ về nội hàm của sản xuất nông nghiệp UDCNC.
So sánh nông nghiệp thông thường với nông nghiệp công nghệ cao Các tiêu chí Nông nghiệp thông thường Nông nghiệp công nghệ cao - Trình độ áp dụng các tiến bộ - Người lao động có kiến thức kỹ thuật thấp. và trình độ chuyên môn kỹ - Trình độ sản xuất của người thuật cao, có đủ năng lực làm Trình độ sản xuất lao động chưa qua đào tạo chủ công nghệ tiên tiến, áp hoặc ít được đào tạo chuyên dụng hiệu quả vào sản xuất. sâu, chưa được tiếp cận nhiều với công nghệ sản xuất tiên tiến. - Quy mô nông hộ nhỏ lẻ, - Sản xuất hàng hóa, tập trung phân tán, manh mún và tự quy mô lớn.
Quy mô và quy cấp, tự túc. - Quy trình sản xuất khép kín, trình sản xuất - Quy trình sản xuất thiếu sản xuất theo chuỗi giá trị sản đồng bộ, thiếu quy hoạch và phẩm: Sản xuất – bảo quản – liên kết (giữa sản xuất – tiêu chế biến – tiêu thụ sản phẩm. - Vốn đầu tư ban đầu rất lớn. - Vốn đầu tư thấp.
- Ít nhân công lao động. - Đầu tư công lao động nhiều. - Phát triển theo “chiều rộng” - Phát triển theo “chiều thẳng thông qua tăng diện tích. đứng” và “trong nhà” trên Mô hình tăng - Chú trọng vào sản lượng một đơn vị diện tích.
trưởng tăng trưởng. - Chú trọng vào chất lượng và giá trị tăng trưởng. - Công nghệ lạc hậu, vẫn dựa - Sử dụng trang thiết bị hiện vào công cụ thủ công. Phần đại, đồng bộ, kết hợp với lớn ngành trồng trọt vẫn còn nhiều công nghệ mới và tiên sử dụng lao động chân tay là tiến.
- Sản xuất theo các mô hình Phương thức và - Đa số hộ nông dân sản xuất canh tác hiện đại nên khai công cụ sản xuất theo kinh nghiệm, theo cách thác có hiệu quả và tiết kiệm thức truyền thống dẫn tới việc tài nguyên đất, nước,… sử dụng rất lãng phí tài nguyên đất, nước,… - Phương thức sản xuất mang nặng tính mùa vụ. - Phụ thuộc vào điều kiện tự - Giảm sự lệ thuộc vào thời nhiên, ảnh hưởng tiêu cực đến tiết và khí hậu, không làm suy Lợi ích môi môi trường. thái, hủy hoại môi trường, trường thân thiện với môi trường. - Đảm bảo môi trường sinh thái bền vững.
Lợi ích xã hội - Chưa chú ý thỏa đáng tới sức - Đảm bảo được an toàn sức khỏe của cả người sản xuất khỏe cộng đồng. lẫn người tiêu dùng. - Năng suất và sản lượng thấp. - Năng suất và sản lượng cao.
- Sản phẩm chất lượng thấp, - Tăng tiêu thụ: Sản phẩm có năng lực cạnh tranh thấp, có giá trị hàng hóa cao, có sức thị trường không ổn định. cạnh tranh và có thị trường ổn - Thu nhập thấp. - Giảm hao phí: Giảm giá Hiệu quả kinh tế thành sản phẩm, giảm bớt dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi, giảm lao động chân tay hay thuê nhân công,… - Tạo ra lợi nhuận cao và nhanh chóng. “Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nguồn khác nhau” 14 Như vậy, từ bảng so sánh trên có thể khái quát lại: Nông nghiệp thông thường lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, ít quan tâm đến sinh thái và môi trường và năng suất không cao, chất lượng không đồng đều về kích cỡ và chất lượng.
Trong khi đó, nông nghiệp UDCNC dựa trên những thành tựu khoa học – công nghệ đã giúp cho con người chủ động sản xuất tạo ra sản phẩm nông nghiệp với năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng được các yêu cầu thị trường. Thuật ngữ nông nghiệp CNC không còn xa lạ gì trên thế giới và Việt Nam, hiện nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về nông nghiệp công nghệ cao (High- Technical Agriculture). Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả xin trích dẫn một số khái niệm để bàn luận: Theo tác giả Nguyễn Văn Bộ: Nông nghiệp công nghệ cao là “nền nông nghiệp mà ở đó các loại hình công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới và công nghệ sinh học) được ứng dụng tổng hợp, theo một quy trình khép kín, hoàn chỉnh nhằm khai thác hiệu quả nhất tài nguyên tự nhiên (đất đai, khí hậu) và tiềm năng của giống để đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao nhất một cách bền vững” (Nguyễn Văn Bộ, 2007).