CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Khái niệm về nguồn nhân lực được thể hiện trong rất nhiều những nghiên cứu, giáo trình chuyên ngành. Ở góc độ tổ chức, doanh nghiệp, khái niệm nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2019), Giáo trình Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó” [24, Tr. Ở khái niệm này, tất cả người lao động làm việc trong doanh nghiệp cấu thành nên nguồn nhân lực của doanh nghiệp đó.
Theo Bùi Văn Nhơn (2006), sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, Nhà xuất bản Bộ Tư pháp, cho rằng: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [12, Tr. Cách định nghĩa này gần như tương tự với khái niệm trên, thể hiện nguồn nhân lực là lực lượng lao động của doanh nghiệp và nhấn mạnh việc những người này do doanh nghiệp trả lương. Theo Lê Thanh Hà (2009), giáo trình Quản trị nhân lực I, Nhà xuất bản Lao động – xã hội, Hà Nội: “Nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi các nhân thành nguồn lực của tổ chức” [6, Tr. Khái niệm này có phạm vi rộng hơn và có sự khác biệt với 2 khái niệm 11 trên, thể hiện thành phần của nguồn nhân lực là nguồn lực của toàn bộ người lao động làm việc trong tổ chức, đồng thời đặt trong mối quan hệ với nguồn lực cá nhân tạo nên nguồn lực của tổ chức.
Qua tham khảo các khái niệm về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp từ các giáo trình và sách chuyên ngành nói trên, tác giả đưa ra khái niệm nguồn nhân lực xét trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này như sau: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là nguồn lực của tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó tạo nên nguồn lực chung của doanh nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Giống như khái niệm về nguồn nhân lực, khái niệm về phát triển nguồn nhân lực cũng được hiểu theo các quan điểm khác nhau: Theo Bùi Văn Nhơn, (2006), sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, Nhà xuất bản Bộ Tư pháp: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực về trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực” [12, Tr. Với cách hiểu này, phát triển nguồn nhân lực được nhấn mạnh ở các hành động, biện pháp tác động tới chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực. Ở phạm vi doanh nghiệp, những hành động, biện pháp, phương pháp, chính sách tác động lên nguồn nhân lực chính là các hoạt động quản trị nhân lực.
Theo Trần Xuân Cầu (2019), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình đảm bảo quy mô nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý”. Ở khái niệm này, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực được xem xét 12 ở ba tiêu chí: đảm bảo quy mô, đảm bảo cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ở mỗi cách tiếp cận, phát triển nguồn nhân lực được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau. Phát triển nguồn nhân lực được phản ánh qua 3 tiêu chí: Đảm bảo về quy mô nguồn nhân lực, đảm bảo về cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Những tiêu chí này đạt được thông qua các hoạt động phát triển nguồn nhân lực phù hợp. Như vậy, khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được hiểu như sau: Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là việc lựa chọn và vận dụng những hoạt động quản trị nhân lực phù hợp nhằm đảm bảo về quy mô nguồn nhân lực, đảm bảo về cơ cấu nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp đó. Tiêu chí phản ánh phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Phát triển nguồn nhân lực được phản ánh thông qua mối quan hệ so sánh với phát triển doanh nghiệp, với nhu cầu của doanh nghiệp trong quá trình phát triển, từ đó đánh giá mức độ đáp ứng của nguồn nhân lực. Do đó, yêu cầu đặt ra đó là phải kết hợp giữa xác định nhu cầu của doanh nghiệp và đánh giá nguồn nhân lực hiện tại, đặt trong quan hệ so sánh để xác định yêu cầu phát triển nguồn nhân lực về quy mô nguồn nhân lực, cơ cấu nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực.
Từ đó, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được phản ánh qua 03 tiêu chí sau đây: 1. Đảm bảo về quy mô nguồn nhân lực Quy mô là khái niệm thể hiện mức độ về mặt khối lượng, số lượng. Đối với tổ chức, doanh nghiệp, quy mô nguồn nhân lực chính là số lượng nhân lực tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, là số lao động của tổ chức trong một thời kỳ nhất định. Đảm bảo về quy mô nguồn nhân lực là đảm bảo về số 13 lượng nhân lực đáp ứng chiến lược sản xuất kinh doanh và mục tiêu của công ty.
Ở từng giai đoạn và thời kỳ, yêu cầu về quy mô nguồn nhân lực thay đổi. Với các doanh nghiệp đang phát triển và mở rộng sản xuất, kinh doanh, quy mô nguồn nhân lực cần được mở rộng để đáp ứng kịp thời sự phát triển. Ngược lại, trong giai đoạn doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh, quy mô nguồn nhân lực sẽ cần phải thu hẹp để đảm bảo về chi phí cho doanh nghiệp. Trong khi đó, với các doanh nghiệp đang có kế hoạch duy trì tốc độ phát triển vững chắc, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, quy mô nguồn nhân lực được duy trì ở mức ổn định.
Như vậy, đảm bảo quy mô nguồn nhân lực của doanh nghiệp được thể hiện ở sự phù hợp của số lượng lao động đối với lĩnh vực hoạt động và chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đảm bảo về cơ cấu nguồn nhân lực Cơ cấu nguồn nhân lực phản ánh tỷ trọng nguồn nhân lực theo từng chỉ tiêu nhất định và phản ánh mối quan hệ trong tổng thể nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động và yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn nhân lực có thể được cơ cấu theo những chỉ tiêu khác nhau. Đảm bảo về cơ cấu nguồn nhân lực là đảm bảo tỷ trọng nguồn nhân lực trong tổng thể nguồn nhân lực của doanh nghiệp theo từng chỉ tiêu cụ thể phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong đó, ở phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cơ cấu quan trọng nhất phản ánh sự phát triển nguồn nhân lực ở một doanh nghiệp là: - Cơ cấu theo phòng ban - Cơ cấu theo phân loại lao động trực tiếp và gián tiếp - Cơ cấu theo giới tính 14 - Cơ cấu theo độ tuổi 1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc vận dụng các hoạt động quản trị nhân lực phù hợp nhằm mục đích cải thiện chất lượng nguồn nhân lực so với chất lượng nguồn nhân lực hiện có của tổ chức. Tiêu chí phản ánh kết quả nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ phụ thuộc vào cách tiếp cận chất lượng nguồn nhân lực.
Thông thường, chất lượng nguồn nhân lực được tiếp cận ở khía cạnh: Thể lực, trí lực và tâm lực: - Thể lực là sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. - Trí lực là trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và kỹ năng hỗ trợ cho công việc. - Tâm lực là ý thức tuân thủ, tự giác trong lao động, tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc; sự gắn kết của người lao động với tổ chức. Một cách tiếp cận khác được áp dụng hiện nay đó là tiếp cận theo góc độ năng lực với 3 yếu tố cấu thành là kiến thức, kỹ năng và thái độ: - Kiến thức: là những hiểu biết có được thông qua học hỏi, tham gia đào tạo.
Đây là yêu cầu cơ bản cần có để thực hiện công việc và được cụ thể hóa theo đặc thù của từng doanh nghiệp, từng loại công việc. - Kỹ năng là khả năng thực hiện công việc, biến kiến thức có được thành hành động cụ thể. - Thái độ là những phẩm chất và hành vi thể hiện thái độ của cá nhân với công việc; sự gắn bó của cá nhân với doanh nghiệp. Sau khi nghiên cứu và tổng hợp các cách tiếp cận nói trên, tác giả đưa ra tiêu chí phản ánh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: 15 - Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn là bằng cấp, trình độ và chuyên môn được đào tạo đáp ứng yêu cầu công việc.
- Kỹ năng là những khả năng bổ trợ cho việc thực hiện công việc đáp ứng yêu cầu. - Ý thức tuân thủ, ý thức trách nhiệm với công việc và sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp. Hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Các hoạt động quản trị nhân lực có tác động tới nguồn nhân lực trong doanh nghiệp ở mọi mặt. Tuy nhiên, đối với phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, cần lựa chọn và thực hiện những hoạt động có tác động trực tiếp để đảm bảo quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, có 5 hoạt động được đưa ra là hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, bao gồm: 1.