CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái quát về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực Thuật ngữ “nguồn nhân lực” xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ 20 khi quan điểm về quản trị con người trong lao động sản xuất thay đổi. Con người vốn được xem như là lực lượng thừa hành, bị khai thác tối đa sức lao động trở thành tài sản quí giá của tổ chức. Các doanh nghiệp chuyển từ tình trạng “tiết kiệm chi phí lao động” sang “đầu tư vào nguồn nhân lực để có lợi thế cạnh tranh cao hơn, có lợi nhuận cao hơn và hiệu quả cao hơn”.(Trần Kim Dung, 2009, tr. Sự xuất hiện thuật ngữ “nguồn nhân lực” thể hiện phương thức quản lý nguồn lực con người đã lỗi thời và đang dần bị phương thức quản lý mới thay thế.
Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái niệm "nguồn lực con người". Khi được sử dụng như một lực lượng sản xuất chủ đạo để thực thi chiến lược kinh doanh của một tổ chức thì nó bao gồm tất cả các nhân sự ở mọi phòng ban cùng tham gia thực hiện mục tiêu tổ chức. Trần Kim Dung (2009, tr. 1) cho rằng “nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Nhân viên có cá tính năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh”. Bên cạnh đó, Nicholas Henry (2007) tiếp cận khái niệm “nguồn nhân lực” dưới góc độ khác.
Đó là nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức. Cách tiếp cận này xem con người với năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 lực tiềm tàng tạo nên sự thay đổi và phát triển của một tổ chức. Do đó, nguồn nhân lực cần thiết phải sử dụng hợp lý và quản lý hiệu quả. Nguyễn Tấn Thịnh (2005) đã nêu rõ khái niệm nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Quan điểm này cụ thể hóa các giá trị đóng góp con người trong tổ chức bao gồm “thể lực” và “trí lực” cấu thành yếu tố sản xuất chủ yếu nhất. Như vậy, có thể hiểu thể lực và trí lực cũng chính là khả năng và tiềm năng con người như Nicholas Henry (2007) đề cập ở trên. Theo cách tiếp cận của các tác giả trên cho thấy nguồn nhân lực bao gồm trình độ chuyên môn, khả năng, tiềm năng của con người tham gia vào sự phát triển của một tổ chức.
Đồng thời, nó là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, đó là thể lực, trí lực, nhân cách, và các nguồn lực con người này biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển tổ chức.2 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Cũng giống như khái niệm nguồn nhân lực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực cũng được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau: Swanson and Holton III (2001) cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình phát triển và thúc đẩy trình độ lành nghề của con người qua việc phát triển tổ chức, đào tạo, và phát triển nhân sự nhằm cải thiện năng suất” (tr. Quan điểm này nhấn mạnh “sự lành nghề“ của nhân viên cần thiết được phát triển, đó chính là những kỹ năng, phẩm chất cần thiết mà nghề nghiệp chuyên môn đòi hỏi. Werner and Randy (2012) định nghĩa về phát triển nguồn nhân lực, đó là “bao gồm các hoạt động có tính hoạch định và hệ thống do tổ chức đưa ra để cung cấp cho người lao động có hội để học tập các kỹ năng cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu công việc trong hiện tại và cả tương lai" (tr. Hoạt động phát triển nguồn nhân lực chính là tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, phát huy các tiềm năng con người và đóng góp vào sự phát triển tổ chức.
Kumar (2005) thì nhấn mạnh rằng phát triển nguồn nhân lực ngoài việc đào tạo các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 kỹ năng làm việc mà còn bao gồm các kỹ năng thuộc về hành vi ứng xử vốn rất cần thiết để thiết lập môi trường doanh nghiệp mà trong đó mọi khả năng nhân viên được phát huy, đào tạo và sử dụng hợp lý. Một nghiên cứu khác của Schmidt and Kunzmann (2006) thì cho rằng phát triển nguồn nhân lực cần được hiểu ở khái niệm rộng hơn, đó là việc đào tạo chính qui trong tổ chức, việc tự học theo định hướng tổ chức và kể cả các hoạt động học tập không chính qui khác. Tóm lại, các quan điểm về phát triển nguồn nhân lực tuy khác nhau nhưng chung qui lại phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển con người toàn diện mọi mặt, bao gồm cả thể lực và trí lực nhằm đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của tổ chức. Cụ thể hơn, phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức liên quan các chiến lược và sách lược nhân sự làm tiền đề cho sự thay đổi phát triển tổ chức.
Trong mỗi tổ chức, phát triển nguồn nhân lực là phát triển cả về số lượng và chất lượng nhân lực thông qua thực hiện các chức năng của công tác phát triển nguồn nhân lực nhằm có được đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức trong thời gian nhất định. Mục tiêu phát triển của tổ chức có thể bao gồm: chuẩn bị nhân sự để đảm nhiệm những nhiệm vụ mới, đào tạo nhân sự mới để thích nghi với hệ thống và cơ cấu tổ chức mới, nâng cao năng lực và kỹ năng làm việc của đội ngũ nhân sự nhằm đạt hiệu quả công việc cao hơn, xây dựng đội ngũ nhân sự đương đầu thách thức mới của tổ chức hoặc cho sự thăng tiến của cá nhân. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa thuật ngữ phát triển và đào tạo nguồn nhân lực để có được sự hiểu biết đúng đắn. Cenzo và Robin (1994) cho rằng đào tạo và phát triển đều có các phương pháp tương tự, được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành.
Tuy nhiên, đào tạo nhấn mạnh đến các phương pháp đạt được kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại. Còn thuật ngữ “phát triển” là khái niệm được hiểu rộng hơn của bất cứ hoạt động nào đóng góp vào sự phát triển của cá nhân hiện đang làm việc trong tổ chức. Nó chú trọng các công việc tương lai trong tổ chức doanh nghiệp, một khi cá nhân được thăng chức trong tổ chức, công việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phát triển sẽ giúp cá nhân đó chuẩn bị sẵn kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của công việc mới. Các khóa học tại đại học cung cấp cho các nhà quản trị những kiến thức mới là một loại điển hình của phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực được xem như là một chức năng trong quản trị nguồn nhân lực (Werner and DeSimone, 2006). Nó nhấn mạnh đến các yếu tố sau: con người giữ vai trò trung tâm; quan tâm đến toàn hệ thống và các giải pháp tích hợp; sự ảnh hưởng và liên kết chiến lược; khả năng thay đổi (Ruona & Gibson, 2004). Phát triển nguồn nhân lực hướng tới sự thỏa mãn, sự cam kết và ý định thay đổi công việc (Alaragaya, 2003). Haslinda-b (2009) nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm của phát triển nguồn nhân lực là học tập, giáo dục và đào tạo cho nguồn nhân lực đã qua tuyển chọn và tuyển dụng trong tổ chức.
Trên cơ sở đó, hoạt động phát triển nguồn nhân lực không thể tách rời hoạt động quản trị nguồn nhân lực. Cụ thể, chúng cần thiết tương tác với hoạt động duy trì, tuyển dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực trong quản trị nguồn nhân lực.3 Vai trò của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Theo Đỗ Văn Phức (2004), nguồn nhân lực của doanh nghiệp là “đầu vào độc lập. Đầu vào quyết định chất lượng, chi phí, thời hạn của các đầu vào khác; quyết định chất lượng, chi phí, thời hạn của các sản phẩm trung gian, sản phẩm bộ phận và sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp” [2, tr. Điều này hoàn toàn được khẳng định bởi vì tất cả các hoạt động của doanh nghiệp do con người thực hiện và quay lại phục vụ cho con người.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa to lớn đối với từng người lao động và mang lại nhiều ích lợi cho doanh nghiệp (Haslinda-b, 2009). Đối với doanh nghiệp, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể thích ứng và theo sát sự tiến hóa và phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đảm bảo cho doanh nghiệp có một lực lượng lao động giỏi, hoàn thành các mục tiêu đề ra. Yussof and Kasim (2003) nhấn mạnh vai trò phát triển nguồn nhân lực rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của tổ chức, trong đó việc giáo dục và đào tạo nhân lực sẽ đóng góp đáng kể vào việc gia tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 năng suất lao động và thu nhập. Cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của phát triển nguồn nhân lực, Swanson and Holton III (2001) cho rằng tổ chức là do nhân lực tạo ra, và việc thành công hay thất bại của tổ chức, do đó phụ thuộc vào nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực, do đó, có sự gắn kết chặt chẽ với “vận mệnh” của tổ chức. “Sự lành nghề“ của nhân viên được phát huy tối đa qua các hoạt động phát triển nguồn nhân lực vì lợi ích của tổ chức.