CHƯƠNG 1 - TRUNG TÂM THÔNG TIN TƯ LIỆU- VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM TRƯỚC NHIEM VỤ DOI MỚI DAT NƯỚC 1. Những vấn đề chung về nguồn lực thông tin Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn đổi mới 1. Khái niệm về nguồn lực thông tin Ngày nay, thông tin đang trở thành nguồn lực vô cùng quan trọng. Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựa trên hình thức giao lưu thông tin nào đó.
Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội. Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình, các hiện tượng tự nhiên được ghi nhận lại trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn. Vậy nguồn lực thông tin bao gồm các dit liệu được thé hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, của tổ chức và các ngành công nghiệp thông tin. Nguồn lực thông tin là nền tảng cho mọi hoạt động thông tin- thư viện.
Nó là cơ sở dé tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin, dé hợp tác và chia sẻ nguồn lực nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thông tin- thư viện. Đây là van dé rat quan trọng, trong bối cảnh xã hội hiện nay khi mà công nghệ thông tin ngày càng phát triển, chi phối toàn bộ các hoạt động xã hội. Nguồn lực thông tin được chia làm hai loại: nguồn lực thông tin khoa học xã hội và nhân văn và nguồn lực thông tin khoa học kỹ thuật. Nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ thuộc về nguồn lực thông tin khoa học và kỹ thuật.
Nguồn lực thông tin KH&CN chính là các thông tin KH&CN được ghi lại trên các loại hình tài liệu và các phương tiện điện tử, được tô chức thành các kho thông tin và các loại hình CSDL. Nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ được coi là chia khóa của mọi hoạt động sáng tạo và trở thành một nhân tố không thé thiếu được trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ. Đó chính là tam quan trọng không thé phủ nhận của thông tin khoa học và công nghệ.Vai trò của nguồn lực thông tin Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn đối mới đất nước Trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện: ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh,bước đầu hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang day mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng lãnh đạo được củng cố va tăng cường; sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên nhiều; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những thành tựu to lớn đó chứng tỏ đường lỗi déi mới của Dang ta là đúng đắn va sáng tạo.
Mục tiêu tiếp theo trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta là: về kinh tế đạt nhịp độ tăng trưởng nhanh hơn, có chất lượng cao hơn và bền vững hơn, đồng thời hoàn thiện và thực hiện đồng bộ thê chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tẾ, tăng thêm sức mạnh tổng hợp quốc gia trong quá trình phát triển. Về văn hóa, xã hội, tiếp tục đôi mới nhiều hơn nữa về cách nghĩ, cách làm, sao cho văn hóa ngày càng thực sự là nền tang tinh thần của xã hội, văn hóa và xã hội thé hiện ngày càng rõ hơn bản chất và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trong mỗi bước phát triển của kinh tế. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng vấn đề phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ nảy. Nhận thức rõ vai trò của thông tin KH & CN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với sự nghiệp phát triển KH & CN nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số chủ trương và chính sách nhằm thúc đây công tác này.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khang định hoạt động thông tin, tuyên truyền và phổ cập kiến thức KH&CN là một trong 8 giải pháp chủ yếu dé thực hiện chiến lược phát triển khoa học va công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Trong đó nêu rõ: « “Day mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, pho cập kiến thức khoa học và công nghệ. 15 « Déay mạnh tuyên truyén, phổ cập tri thức khoa học Mac - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học xã hội và nhân văn nói chung, những hiểu biết thường thức về khoa học tự nhiên và công nghệ, bảo vệ môi trường trong nhân dân đặc biệt là vùng nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc ít người, hình thành lối sống văn mình và sự lành mạnh của môi trường xã hội. « Pay mạnh các dịch vụ thông tin KH & CN về lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp đặc biệt là thông tin công nghệ.
«Phat triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin ve KH & CN nước ngoài.tr 74] Đối với hoạt động thông tin KH & CN ở nước ta nói chung, đối với Trung tâm TTTL nói riêng đây là sự định hướng chiến lược cực kỳ quan trọng, phù hợp với xu thé phát trién chung của thé giới và đặc thù phát triển của đất nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Đặc biệt Nghị quyết đã khang dinh vé dinh hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: “ Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đây nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyên biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người” [7. tr65], và từ nay đến năm 2020 phải phan đấu dé xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Dựa trên việc phân tích một cách sâu sắc các cơ hội và thách thức đối với dân tộc ta trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ về kinh tế — xã hội, về khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hoá, Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khang dinh: khoa hoc công nghệ là quốc sách hàng dau; phát triển khoa học công nghệ là một trong những động lực quan trọng thúc đây sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện dé phát huy nguồn lực con người — yếu tố cơ bản dé phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Thông tin KH & CN là chat liéu không thể thiếu được trong hoạt động 16 nghiên cứu KH&CN. Sở dĩ như vậy vì lao động KH&CN là lao động mang tính sáng tạo, tìm kiếm cái chưa biết do đó có thê thành công mà cũng có thê thất bại. Sự thất bại trong nghiên cứu KH&CN có thé do nhiều nguyên nhân với các mức độ khác nhau. Nhưng một trong những nguyên nhân ấy là do thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy dé xử lý những van đề được đặt ra trong nghiên cứu.
Ngoài ra, hoạt động nghiên cứu khoa học là một loại hoạt động đặc thù của con người nhằm thu thập những thông tin khoa học mới trên cơ sở những thông tin mà loài người đã tích luỹ được. Thiếu thông tin không thể có hoạt động nghiên cứu khoa học. Sự thành bại trong việc nghiên cứu KH&CN của các nhà khoa học một phần tuỳ thuộc vào khả năng với tới các nguồn thông tin phù hợp, phản ánh đúng hiện trạng và xu thế phát triển của đất nước và khu vực đặc biệt là trong lĩnh vực KH&CN. Các nguồn lực thông tin KH & CN được tô chức và khai thác tốt sẽ là các nhân tố quyết định cho công việc nghiên cứu KH&CN.
Khái quát về Trung tâm Thông tin Tư liệu — Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam 1.Lịch sử hình thành và phát triển Vào năm 1975, Chính phủ đã ra Nghị định 118/CP theo đó, Viện Khoa học Việt Nam được thành lập trên cơ sở của Viện nghiên cứu khoa học tự nhiên. Viện có nhiệm vụ nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực khoa học tự nhiên dé phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Do yêu cầu của công việc nghiên cứu khoa học, sau một năm ra đời, ban lãnh đạo Viện khoa học Việt Nam đã ra quyết định thành lập Phòng thông tin tư liệu nằm trong khối chức năng của Viện vào năm 1976. Đến năm 1982, do yêu cầu của công tác hoạt động thông tin tại Viện khoa học Việt Nam, Trung tâm thông tin khoa học được thành lập trên cơ sở phòng thông tin tư liệu.
Trung tâm thông tin khoa học là cơ quan thông tin khoa học đầu ngành của Viện Khoa học Việt Nam, có chức năng làm thông tin khoa học phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nghiên cứu khoa học của Viện, giúp ban lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam quản lý mạng lưới thông tin khoa học của viện. Thời kỳ 17 này, Trung tâm thông tin khoa học chỉ có hai bộ phận chính: Phòng Thông tin, phòng Thư viện Lưu trữ và một tô hành chính tô chức. Năm 1993, khi Viện Khoa học Việt Nam được Chính phủ chuyền thành trung tâm Khoa hoc Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia để phù hợp với yêu cau, nhiệm vụ và hướng phát triển trong thời kỳ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước. Do đó, trung tâm thông tin khoa học được Giám đốc Trung tâm KHTN&CNGG chuyển thành Trung tâm TTTL thuộc Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam (về sau này được đôi tên thành Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam).