Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài được xây dựng trong bối cảnh thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới và triển khai cuộc cách mạng "tam nông" (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) do Đảng và Nhà nước đề ra. Trọng tâm của quá trình này là hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển ngành nghề phụ trên cơ sở khai thác và bảo tồn các nghề thủ công truyền thống. Tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, làng nghề thêu tay xã Quất Động là một làng cổ có bề dày lịch sử lâu đời, được coi là nơi khởi nguồn của nghề thêu tay truyền thống tại Việt Nam. Hoạt động thêu tay tại đây từng tạo việc làm, mang lại thu nhập và đời sống ổn định cho cộng đồng dân cư địa phương, đồng thời cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự cạnh tranh từ các sản phẩm thêu máy công nghiệp, nghề thêu tay thủ công tại Quất Động đang đối mặt với xu hướng mai một dần, đặt ra bài toán cấp bách về việc tìm kiếm giải pháp duy trì và phát triển làng nghề trong điều kiện kinh tế thị trường.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ:

  1. Khái quát hóa những vấn đề lý luận cơ bản về ngành nghề, làng nghề truyền thống và mô hình lý thuyết cung - cầu trong kinh tế học.
  2. Làm rõ thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành thêu tay tại xã Quất Động; thu thập và phân tích dữ liệu về những khó khăn cũng như kỳ vọng của người dân địa phương đối với tương lai nghề thêu thông qua phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy và phát triển bền vững nghề thêu tay tại xã Quất Động.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Người dân tại xã Quất Động từ 18 tuổi trở lên, với quy mô khảo sát thực tế là 50 người.
  • Phạm vi không gian: Không gian địa lý làng nghề thêu tay thuộc xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát thực tế bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu được thu thập trong khoảng thời gian từ ngày 20/03/2023 đến ngày 09/04/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng lý thuyết kinh tế vi mô làm nền tảng phân tích chính, trọng tâm là mô hình Cung - Cầu (với gốc rễ từ lý thuyết "bàn tay vô hình" của Adam Smith) và 4 nguyên lý dịch chuyển trạng thái cân bằng thị trường theo David Besanko (2010, ấn bản 4). Tác giả phân tích các yếu tố tác động đến sự dịch chuyển của đường Cầu (giá cả hàng hóa, thu nhập người tiêu dùng phân hóa theo hàng hóa thông thường và hàng hóa thứ cấp, thị hiếu thời trang, kỳ vọng giá cả, giá hàng hóa thay thế liên quan, số lượng người tiêu dùng) và các yếu tố tác động đến sự dịch chuyển của đường Cung (giá bán, chi phí sản xuất đầu vào, tiền công lao động, công nghệ thiết kế và thêu tự động, chính sách thuế và hỗ trợ tín dụng của Chính phủ, số lượng người bán, kỳ vọng của người sản xuất). Bên cạnh đó, khung phân tích tích hợp mô hình 4 trụ cột của hệ thống khớp nối Cung - Cầu trên thị trường:

  • Hệ thống thông tin thị trường (trích dẫn lý thuyết quản trị thông tin của Kenneth C. Laudon & Jane P. Laudon, 2019; định hướng từ Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Ấn Độ 2018).
  • Hệ thống đảm bảo quyền sở hữu tài sản (bảo vệ nhãn hiệu, phòng ngừa hàng giả, hàng nhái theo The Balance Small Business, 2019).
  • Hệ thống đảm bảo giao dịch và hợp đồng (quy chuẩn hóa giao dịch mua bán, hạn chế tranh chấp hợp đồng).
  • Hệ thống định giá (xác lập cơ chế định giá minh bạch phản ánh đúng giá trị thẩm mỹ và lao động thủ công).

Về mặt thể chế và pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ (thay thế Nghị định 66/2006/NĐ-CP) về tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống (trong đó có tiêu chí tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn).
  • Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tiêu chí làng nghề truyền thống Việt Nam (nghề xuất hiện trên 50 năm, tối thiểu 30% số hộ tham gia).
  • Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 07/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030.
  • Các tài liệu học thuật và địa chí: sách "Làng nghề truyền thống Việt Nam" của Phạm Côn Sơn (2004), sách "Lịch sử Việt Nam" tập 1, trích dẫn nghiên cứu về nghệ thuật may thêu của Pat Berman (2000), và tài liệu lịch sử "Hà Đông tỉnh dư địa chí" của J. Rouan (1925).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp luật, cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín, các công trình nghiên cứu đi trước về làng nghề (Nguyễn Thị Thọ, 2005; Phan Văn Tú, 2011; Đỗ Việt Hùng, 2012; Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 2014; Vũ Ngọc Hoàng, 2016).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp: Thực hiện trên 10 cá nhân đại diện cho 3 nhóm đối tượng tại địa phương (5 đại diện hộ gia đình trực tiếp làm nghề thêu; 2 cá nhân thuộc nhóm trí thức trẻ độ tuổi 18–25; 3 người lao động làm việc trong các ngành nghề khác).
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi: Phát phiếu khảo sát bán cấu trúc cho 40 người dân trên địa bàn xã Quất Động từ 18 tuổi trở lên (tổng mẫu khảo sát đạt 50 người).
  • Phương pháp phân tích ma trận SWOT nhằm đánh giá tổng hợp Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức đối với nghề thêu tay Quất Động.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khung lý luận về phát triển nghề thêu tay theo tiếp cận Cung – Cầu

Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống và ngành nghề thêu tay. Tác giả phân tích đặc tính của sản phẩm thêu tay: tính ứng dụng thực tế cao (tranh thêu, túi xách, khăn, ví, khẩu trang, trang phục thời trang), độ bền sử dụng lâu dài, và giá trị nghệ thuật độc bản. Để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, người thợ phải thực hiện những công đoạn thủ công phức tạp không thể thay thế hoàn toàn bằng máy móc như quấn chỉ con bọ, xe hạt, bọc vành, thêu ruban, phối màu sắc tỉ mỉ. Chính sự kỳ công và tính cá biệt hóa cao đã khiến giá thành sản phẩm thêu tay cao hơn hẳn sản phẩm dệt may công nghiệp thông thường, tạo nên rào cản chi trả đối với phần lớn người tiêu dùng.

Tiếp đó, tác giả trình bày mô hình Cung - Cầu vi mô và cơ chế vận hành của thị trường. Điểm cốt lõi của chương là xây dựng khung lý luận định nghĩa sự phát triển của nghề thêu tay: trạng thái ban đầu của thị trường nằm tại điểm cân bằng E0 gần gốc tọa độ (lượng giao dịch ít, doanh thu và mức giá thấp). Quá trình phát triển được định nghĩa là sự dịch chuyển đồng thời của cả đường Cung và đường Cầu sang phía bên phải, đưa vị trí cân bằng thị trường lên điểm E1 với lượng giao dịch lớn hơn và giá trị kinh tế cao hơn. Để đạt được sự dịch chuyển này, thị trường đòi hỏi sự tác động đồng bộ của các chính sách kích cung, kích cầu và sự hoàn thiện của hệ thống khớp nối 4 thành phần (thông tin thị trường, bảo đảm quyền sở hữu tài sản, bảo đảm giao dịch hợp đồng, hệ thống định giá).

Chương II: Thực trạng phát triển ngành nghề thêu tay tại xã Quất Động – Huyện Thường Tín – TP. Hà Nội

Nội dung chương mở đầu bằng việc phác thảo bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu:

  • Xã Quất Động nằm ở phía Nam huyện Thường Tín, ven Quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 25 km; diện tích tự nhiên toàn xã là 4,84 km2; dân số 8.329 người; bao gồm 8 thôn: Quất Động, Quất Lâm, Quất Tỉnh, Đức Trạch, Đô Quan, Nguyên Bì, Hường Xá và Lưu Xá. Riêng khu vực trung tâm làng nghề thêu có quy mô diện tích khoảng 50 hecta. Làng nghề Quất Động thuộc danh mục các dự án ưu tiên đầu tư giữ gìn và phát triển làng nghề gắn với du lịch của thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
  • Về lịch sử hình thành: Nghề thêu tại Quất Động có từ thế kỷ 17. Nhân vật lịch sử khởi xướng là ông Lê Công Hành (người làng Quất Động, dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Quốc năm 1646, học kỹ thuật thêu cung đình Bắc Kinh rồi truyền dạy lại cho dân chúng khi về nước). Dân làng lập đền thờ tôn vinh ông là ông tổ nghề thêu và lấy ngày 12 tháng 6 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ tổ. Cứ liệu từ cuốn "Hà Đông tỉnh dư địa chí" của J. Rouan (1925) cho biết vào năm 1925 toàn tỉnh Hà Đông có 1.290 thợ thêu thì riêng làng Quất Động đã chiếm 600 người; đến năm 1939 số thợ thêu tại làng tăng lên gấp đôi. Vào thế kỷ 18–19, người Pháp từng thành lập các trường may thêu tại Hà Nội, góp phần phổ biến kỹ thuật nghề của vùng.

Đi sâu vào thực trạng cung - cầu và khớp nối cung - cầu tại Quất Động, chương khảo sát chỉ rõ:

  • Thực trạng Cung: Cung ứng sản phẩm dựa chủ yếu vào quy mô hộ gia đình và các thợ thêu lành nghề cao tuổi. Chi phí nhân công và nguyên liệu đầu vào có xu hướng tăng, trong khi năng suất lao động thủ công không thể đẩy nhanh như máy móc. Sự xuất hiện của máy thêu tự động và công nghệ in thêu công nghiệp tạo sức ép cạnh tranh khốc liệt về giá và số lượng. Số lượng lao động trẻ kế cận giảm sút do thu nhập nghề thêu chưa đủ hấp dẫn so với các ngành công nghiệp hoặc dịch vụ khác.
  • Thực trạng Cầu: Thị trường tiêu thụ tranh thêu truyền thống có xu hướng thu hẹp, nhưng nhu cầu đang mở rộng sang các dòng sản phẩm thời trang ứng dụng (áo dài, trang phục thiết kế, phụ kiện cá nhân). Người tiêu dùng có xu hướng sẵn sàng chi trả cao cho các sản phẩm thêu tay độc bản, tinh xảo, nhưng phân khúc khách hàng này đòi hỏi mẫu mã phải liên tục đổi mới.
  • Khớp nối Cung - Cầu: Kênh tiêu thụ chủ yếu qua các trung gian thương mại hoặc khách đặt hàng đơn lẻ, thiếu vắng các kênh thương mại điện tử chuyên nghiệp và hệ thống phân phối trực tiếp. Việc đăng ký nhãn hiệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các mẫu thêu độc quyền chưa được chú trọng, dẫn đến tình trạng sao chép mẫu mã và định giá thiếu tính nhất quán.

Dựa trên dữ liệu khảo sát 50 người dân và phỏng vấn sâu, tác giả xây dựng bảng phân tích SWOT, chỉ rõ các điểm mạnh về tay nghề truyền thống và bề dày danh tiếng; các điểm yếu về mẫu mã, chi phí sản xuất và tiếp thị; các cơ hội từ chính sách bảo tồn làng nghề (Quyết định 801/QĐ-TTg) và làn sóng tiêu dùng sản phẩm văn hóa bản địa; cùng các thách thức lớn từ sự cạnh tranh của hàng công nghiệp giá rẻ và tình trạng đứt gãy lực lượng kế cận.

Chương III: Giải pháp thúc đẩy phát triển nghề thêu tay tại xã Quất Động

Trên cơ sở mục tiêu phát triển làng nghề gắn với quy hoạch du lịch làng nghề của thành phố Hà Nội, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ vào cả hai phía Cung và Cầu:

  • Nhóm giải pháp phía Cung: Đào tạo và nâng cao tay nghề cho thợ thêu, chú trọng các chính sách khuyến khích thế hệ trẻ học nghề; đưa phần mềm thiết kế hoa văn chuyên dụng vào khâu tạo mẫu để giảm thiểu thời gian vẽ phác thảo thủ công và hạ giá thành sản xuất; triển khai các chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các hộ sản xuất nhằm cải thiện điều kiện nhà xưởng và nguyên liệu đầu vào.
  • Nhóm giải pháp phía Cầu: Đa dạng hóa danh mục sản phẩm, chuyển dịch mạnh từ tranh thêu treo tường sang các mặt hàng thời trang may mặc và đồ lưu niệm cá nhân (áo dài, váy áo thêu họa tiết, ví, khẩu trang, khăn trải); tối ưu hóa chi phí sản xuất để đưa ra các khung giá phù hợp với nhiều phân khúc thu nhập khác nhau nhằm mở rộng tập khách hàng.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống khớp nối Cung - Cầu: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại thông qua nền tảng số và sàn thương mại điện tử; xây dựng và bảo vệ thương hiệu làng nghề thêu Quất Động thông qua việc đăng ký chỉ dẫn địa lý và quyền sở hữu trí tuệ; kết nối các tour du lịch trải nghiệm làng nghề thủ công gắn với tuyến du lịch phía Nam Hà Nội để đưa sản phẩm tiếp cận trực tiếp khách du lịch trong nước và quốc tế.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu định lượng và tiêu chí kinh tế - xã hội quan trọng liên quan đến làng nghề Quất Động:

Nhóm chỉ tiêu / Dữ liệu Giá trị ghi nhận trong khóa luận Nguồn trích xuất / Căn cứ pháp lý
Quy mô diện tích làng nghề trung tâm Khoảng 50 ha Khóa luận (Chương II)
Diện tích tự nhiên toàn xã Quất Động 4,84 km2 Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín
Quy mô dân số xã Quất Động 8.329 người Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín
Cơ cấu đơn vị hành chính xã Quất Động 8 thôn (Quất Động, Quất Lâm, Quất Tỉnh, Đức Trạch, Đô Quan, Nguyên Bì, Hường Xá, Lưu Xá) Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín
Số lượng thợ thêu năm 1925 600 thợ (trên tổng số 1.290 thợ toàn tỉnh Hà Đông) Cuốn "Hà Đông tỉnh dư địa chí" (J. Rouan, 1925)
Tăng trưởng thợ thêu năm 1939 Tăng gấp đôi so với năm 1925 Khóa luận (Chương II)
Tiêu chí hộ làm nghề truyền thống Tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ
Tiêu chí lịch sử làng nghề truyền thống Nghề xuất hiện trên 50 năm Thông tư số 116/2006/TT-BNN; Nghị định 52/2018/NĐ-CP
Quy mô mẫu khảo sát thực địa n = 50 người (10 phỏng vấn sâu, 40 điền phiếu hỏi) Dữ liệu điều tra của tác giả (20/03/2023 - 09/04/2023)
Cơ cấu mẫu phỏng vấn sâu trực tiếp 5 hộ làm nghề; 2 trí thức trẻ (18-25 tuổi); 3 lao động ngành khác Dữ liệu điều tra của tác giả

Về mặt học thuật và thực tiễn, tác giả đã tự xác định các đóng góp của công trình so với các nghiên cứu trước:

  • Về phương diện học thuật: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển làng nghề nông thôn dưới lăng kính mô hình Cung - Cầu vi mô và khung khớp nối 4 trụ cột thị trường; khắc phục sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghề thêu tay tại xã Quất Động (vốn chỉ được đề cập chung trong các nghiên cứu tổng thể về làng nghề Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận).
  • Về phương diện thực tiễn: Công trình cung cấp bức tranh dữ liệu khảo sát thực địa cụ thể về tâm tư, kỳ vọng và rào cản phát triển của người dân địa phương; đề xuất các giải pháp gắn liền với bối cảnh chuyển dịch nông thôn mới và chính sách phát triển làng nghề gắn với du lịch của Hà Nội đến năm 2030 theo Quyết định 801/QĐ-TTg.
  • Về tính hoàn thiện học thuật: Bản giải trình chỉnh sửa ngày 24/04/2023 ghi nhận tác giả đã nghiêm túc tiếp thu 7 kết luận của Hội đồng đánh giá phiên họp ngày 18/03/2023, bao gồm việc bổ sung trích dẫn lý thuyết tại Chương 1, sắp xếp lại kết cấu các chương, gắn kết phân tích thực trạng Chương 2 với mô hình cung - cầu, hoàn thiện bảng hỏi điều tra tại phần phụ lục, và đồng bộ hóa hệ thống giải pháp Chương 3 bám sát thực trạng đã đánh giá.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nghiên cứu được tác giả thừa nhận trong lời cảm ơn và bản giải trình hội đồng:

  • Giới hạn về quy mô mẫu và thời gian khảo sát: Mẫu khảo sát dừng lại ở 50 người dân sinh sống tại xã Quất Động, được thực hiện trong khoảng thời gian tương đối ngắn (khoảng 20 ngày từ 20/03/2023 đến 09/04/2023). Mẫu nghiên cứu chưa mở rộng điều tra các nhóm khách hàng, du khách và đối tác phân phối bên ngoài địa phương.
  • Mức độ lượng hóa mô hình kinh tế: Việc áp dụng mô hình Cung - Cầu chủ yếu dừng lại ở mức độ phân tích định tính và mô tả xu hướng dịch chuyển lý thuyết; chưa xây dựng được hàm hồi quy kinh lượng học để ước lượng chính xác độ co giãn của cung và cầu theo giá, thu nhập hay chi phí sản xuất.
  • Đánh giá mang tính chủ quan: Tác giả tự nhìn nhận các nhận định, đánh giá và giải pháp đề xuất vẫn chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm và kỹ năng nghiên cứu cá nhân của một sinh viên tốt nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát sang các đối tượng tiêu dùng tiềm năng tại các trung tâm đô thị lớn và các công ty du lịch lữ hành để đo lường chính xác dung lượng thị trường và thị hiếu tiêu dùng đối với sản phẩm thêu tay.
  • Ứng dụng các mô hình định lượng nhằm tính toán chi tiết chuỗi giá trị và cơ cấu chi phí - lợi nhuận của các hộ sản xuất thêu tay, từ đó đưa ra các căn cứ tài chính cụ thể hơn cho các chính sách tín dụng và thuế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn khi tìm kiếm tài liệu mẫu về việc vận dụng lý thuyết kinh tế vi mô (Cung - Cầu và khớp nối thị trường) để giải quyết bài toán phát triển làng nghề truyền thống.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (UBND xã Quất Động, UBND huyện Thường Tín, các cơ quan văn hóa - du lịch của thành phố Hà Nội) trong việc xây dựng đề án bảo tồn nghề thủ công truyền thống gắn với du lịch sinh thái nông thôn theo định hướng Quyết định 801/QĐ-TTg.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: Hệ thống hóa khung 4 trụ cột khớp nối Cung - Cầu; các số liệu địa chí lịch sử trích dẫn từ tài liệu của J. Rouan (1925); thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn phân tầng theo 3 nhóm đối tượng tại địa phương; và ma trận phân tích SWOT làng nghề thêu Quất Động.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng mô hình kinh tế nào làm khung phân tích cốt lõi cho sự phát triển của nghề thêu tay? Tác giả sử dụng mô hình Cung - Cầu vi mô (kế thừa các nguyên lý cân bằng của David Besanko) kết hợp với mô hình 4 trụ cột của hệ thống khớp nối Cung - Cầu (gồm hệ thống thông tin thị trường, hệ thống bảo đảm quyền sở hữu tài sản, hệ thống bảo đảm giao dịch hợp đồng và hệ thống định giá). Quá trình phát triển nghề thêu được định nghĩa là sự dịch chuyển đồng thời của cả đường cung và đường cầu từ điểm cân bằng ban đầu E0 (sản lượng thấp, doanh thu thấp) sang điểm cân bằng mới E1 (sản lượng và giá trị gia tăng cao hơn).

Theo tài liệu được trích dẫn trong khóa luận, lịch sử làng nghề thêu Quất Động gắn liền với nhân vật lịch sử nào và có những dấu mốc phát triển nào? Nghề thêu Quất Động gắn liền với ông Lê Công Hành, người làng Quất Động, người đã học kỹ thuật thêu cung đình khi dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Quốc năm 1646 và truyền dạy lại cho dân chúng khi về nước (ông được tôn làm ông tổ nghề thêu, giỗ tổ vào ngày 12/6 âm lịch hàng năm). Về quy mô thợ thêu, cứ liệu từ cuốn "Hà Đông tỉnh dư địa chí" của J. Rouan (1925) cho biết năm 1925 toàn tỉnh Hà Đông có 1.290 thợ thêu thì riêng Quất Động có 600 thợ; số lượng này tiếp tục tăng gấp đôi vào năm 1939.

Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra thực tế của đề tài được triển khai ra sao? Khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 20/03/2023 đến ngày 09/04/2023 với tổng cộng 50 người dân từ 18 tuổi trở lên tại xã Quất Động. Mẫu nghiên cứu kết hợp giữa phỏng vấn sâu trực tiếp 10 người (chia thành 5 đại diện hộ gia đình theo nghề, 2 thanh niên/trí thức trẻ 18–25 tuổi, và 3 người lao động ngành nghề khác) cùng phương pháp phát phiếu hỏi cho 40 người dân trên địa bàn.

Bốn yếu tố cấu thành hệ thống khớp nối Cung - Cầu trong khóa luận có vai trò gì? Bốn yếu tố gồm: (1) Hệ thống thông tin thị trường giúp người mua và người bán tiếp cận dữ liệu về sản phẩm, giá cả và xu hướng; (2) Hệ thống đảm bảo quyền sở hữu tài sản giúp ngăn chặn hàng nhái, hàng giả, bảo vệ động lực sáng tạo mẫu mã; (3) Hệ thống đảm bảo giao dịch và hợp đồng tạo quy trình mua bán thống nhất, giảm thiểu rủi ro đền bù và tranh chấp; (4) Hệ thống định giá giúp xác lập tỷ lệ trao đổi công bằng, phản ánh đúng độ tinh xảo và giá trị lao động thủ công của sản phẩm.

Hội đồng đánh giá khóa luận ngày 18/03/2023 đã yêu cầu tác giả chỉnh sửa những nội dung trọng tâm nào? Hội đồng đã đưa ra 7 yêu cầu chỉnh sửa trong biên bản: (1) Bổ sung khái niệm và trích dẫn đầy đủ cơ sở lý thuyết tại Chương 1; (2) Sắp xếp lại bố cục nội dung các chương cho phù hợp; (3) Bổ sung phân tích thực trạng ở Chương 2 để gắn chặt với cơ sở lý thuyết Chương 1; (4) Chỉnh sửa bảng hỏi điều tra tại phần phụ lục; (5) Gắn kết các giải pháp ở Chương 3 bám sát thực trạng Chương 2; (6) Hoàn thiện việc vận dụng mô hình Cung - Cầu vào phân tích làng nghề thực tế; (7) Chuẩn hóa hình thức trình bày theo đúng định dạng quy định của Học viện.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Hiền là công trình nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế phát triển, tiếp cận bài toán bảo tồn làng nghề truyền thống Quất Động dưới góc nhìn lý thuyết Cung - Cầu vi mô và các yếu tố khớp nối thị trường. Tác giả đã kết hợp tư liệu địa chí lịch sử với số liệu điều tra thực địa trên 50 người dân để chỉ ra các thách thức nội tại về công nghệ, chi phí, mẫu mã và kênh phân phối của làng nghề. Hệ thống giải pháp đề xuất bao hàm cả việc kích cung qua hỗ trợ kỹ thuật, vốn vay và kích cầu qua đa dạng hóa sản phẩm thời trang ứng dụng, mở ra định hướng phát triển nghề thêu tay gắn với quy hoạch du lịch làng nghề bền vững tại địa phương.