CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGHỀ PHI NÔNG NGHIỆP 1.1 Khái niệm, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát triển nghề phi nông nghiệp 1.1 Chính sách, Chính sách công - Khái niệm: Chính sách Hiện nay, có nhiều khái niệm về chính sách. Hiện nay, khái niệm được sử dụng nhiều nhất đó là: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội. Khái niệm trên vừa thể hiện đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội và đạt được mục tiêu nhất định theo mong muốn của chủ thể quản lý”. Từ các khái niệm trên, chính sách công được xem là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước.
Như vậy, chính sách công chính là công cụ, là chuỗi các hoạt động để nhà nước can thiệp vào tất cả các lĩnh vự của đời sống xã hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình. Trên cơ sở đó, khái niệm về chính sách công được dùng trong luận văn 8 n là: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”. Qua các định nghĩa trên, khái niệm “chính sách phát triển nghề phi nông nghiệp” được hiểu trong luận văn “Chính sách phát triển nghề phi nông nghiệp là tập hợp các quyết định có liên quan để lực chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách phát triển nghề phi nông nghiệp theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.2 Chính sách phát triển nghề phi nông nghiệp * Sản xuất phi nông nghiệp Phi nông nghiệp có thể được hiểu là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – thương mại và dịch vụ. Hoạt động phi nông nghiệp là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hay dịch vụ nhằm tạo ra việc làm, giải quyết lao động dư thừa nâng cao thu nhập cải thiện cuộc sống cho người dân.
Vì vậy để phát triển các ngành nghề này, đòi hỏi phải có thời gian và phải trải qua những bậc thang nhất định của sự phát triển. * Các ngành nghề phi nông nghiệp: - Công nghiệp: Công nghiệp nông thôn là một khái niệm đơn ngành dùng để chỉ một bộ phận của ngành công nghiệp được tiến hành ở nông thôn, hoặc chính xác hơn là các hoạt động sản xuất mang tính công nghiệp được diễn ra ở nông thôn. Tuy nhiên một số tác giả sử dụng thuật ngữ công nghiệp nông thôn để bao hàm toàn bộ những hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn tức là bao gồm cả xây dựng, thương nghiệp và các loại dịch vụ khác liên quan tới kinh tế nông thôn của quá trình phân công lao động tại chỗ. Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp được phân bố ở nông thôn bao gồm các cơ sở 9 n sản xuất công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, cùng với các ngành tiểu thủ công nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế.
Phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (Nguyễn Thế Thìn và cộng sự, 2018). Công nghiệp nông thôn là các hoạt động sản xuất có tính chất công nghiệp khu vực nông thôn chỉ hàm chứa các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ hoặc rất nhỏ như các doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý là chủ yếu, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, các tư nhân và hộ gia đình tiểu chủ, cá thể. Các quy mô, tổ chức vừa và nhỏ đa dạng nói trên, có đăng ký sản xuất kinh doanh, dựa trên sở hữu tư liệu sản xuất. Hình thức chủ yếu của công nghiệp nông thôn Việt Nam hiện nay là tiểu thủ công nghiệp - hình thức ban đầu của sự phát triển công nghiệp đã tồn tại và phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn, ngoài ra công nghiệp nông thôn còn bao gồm các bộ phận sản xuất công nghiệp và dịch vụ có tính chất công nghiệp hoặc phục vụ công nghiệp của thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã, các tổ hợp công ty, công ty cổ phần, hộ sản xuất kinh doanh, tổ sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh chế biến lương thực thực phẩm và các xí nghiệp công nghiệp khác, hầu hết có quy mô vừa và nhỏ mà họat động trực tiếp gắn liền với kinh tế nông thôn.
- Tiểu thủ công nghiệp: Tiểu thủ công nghiệp là ngành công nghiệp nhỏ, có quy mô sản xuất nhỏ và số lượng nhân công ít, sản phẩm chủ yếu bằng thủ công, hoặc có áp dụng công nghệ xong quy mô sản xuất với sản lượng ít, hoặc chưa hiện đại. Tiểu thủ CN ở nông thôn thường gắn liền với thời gian nông nhàn, nhưng nó lại có thu nhập cao hơn sản xuất NN vì vậy mà nhiều hộ không thực hiện các hoạt động sản xuất NN nữa mà tập trung thực hiện sản xuất tiểu thủ CN. Thực 10 n tế cho thấy, các ngành nghề tiểu thủ CN thường được phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của các làng nghề, làng nghề truyền thống. - Kinh tế dịch vụ nông thôn: Dịch vụ nông thôn để chỉ toàn bộ các hoạt động thương mại dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất, đời sống và các nhu cầu phát triển khác ở nông thôn.
Thương mại dịch vụ là một ngành kinh tế quan trọng, là một bộ phận cấu thành kinh tế nông thôn nước ta trong quá trình công nghiệp hóa. Ta phân loại kinh tế dịch vụ nông thôn theo các tiêu thức khác nhau: theo lĩnh vực được cung ứng dịch vụ, tính chất xã hội của đối tượng phục vụ, nội dung của dịch vụ, dựa theo trách nhiệm chi trả dịch vụ của người sử dụng dịch vụ. Theo lĩnh vực được cung ứng dịch vụ: Người ta phân chia thành dịch vụ sản xuất, dịch vụ đời sống nông thôn. Dịch vụ sản xuất cho nền kinh tế nông thôn bao gồm các dịch vụ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng nông thôn.
Đây là loại dịch chủ yếu nhất trong nông thôn, bao gồm nhiều hoạt động cụ thể như cung cấp thông tin cho người sản xuất, xây dựng hệ thống chợ và các đầu mối giao lưu vật tư hàng hoá, hướng dẫn sản xuất và tiêu thụ … Dịch vụ đời sống nông thôn bao gồm hai loại: Dịch vụ đời sống vật chất và dịch vụ đời sống tinh thần cho cá nhân và cộng đồng dân cư. Các dịch vụ đời sống vật chất chủ yếu có dịch vụ ăn uống, may mặc, thẩm mĩ, vệ sinh, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ …Các dịch vụ tinh thần chủ yếu có dịch vụ giáo dục đào tạo nghề, văn hoá tín ngưỡng, thể dục, thể thao .Ngoài ra còn môt số dịch vụ khác phục vụ sinh hoạt nông thôn như dịch vụ vận tải hành khách, bưu điện, cung cấp điện, nước… Theo tính chất xã hội của đối tượng phục vụ: Người ta phân thành dịch vụ công cộng và dịch vụ cá nhân. Dịch vụ công cộng là những dịch vụ đáp ứng 11 n nhu cầu chung của xã hội hay một nhóm cộng đồng nông thôn. Những dịch vụ công cộng xã hội hình thành và phát triển là khách quan xuất phát từ đòi hỏi khách quan và cách thức thoả mãn nhu cầu của cộng đồng nông thôn như các dịch vô sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt tín ngưỡng, dịch vụ trị an thôn xóm … Tuy nhiên, phù hợp với đòi hỏi khách quan về cách thức thoả mãn nhu cầu, phần lớn các dịch vô sinh hoạt đời sống và tinh thần là dịch vụ cá nhân.
Theo nội dung của dịch vụ: Người ta phân các dịch vụ thành dịch vụ lao động, dịch vụ tín dụng, dịch vụ kỹ thuật sản xuất, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ chất xám. Dịch vụ lao động trong nông nghiệp, nông thôn thực hiện các hoạt động giới thiệu việc làm cho người đi tìm việc làm thuê ở các trang trại, các xưởng thủ công, tổ chức việc làm thuê các công việc sản xuất nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp, như chuẩn bị sản xuất, thu hoạch mùa vụ…Thực hiện dịch vụ lao động ở nông thôn nước ta hiện nay gồm những cá nhân làm thuê, những nhóm lao động thủ công làm thuê, những tổ hợp hay hợp tác xã làm dịch vụ [29, tr75). Dịch vụ tín dụng là hoạt động kinh doanh tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Hiện nay ở hầu hết nhiều vùng nông thôn do trình độ hàng hoá còn thấp nên thu nhập và tích luỹ còn thấp.
Trong khi đó hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội ở nông thôn đã chịu sự tác động mạnh mẽ của thị trường và các quan hệ tiền tệ (quan hệ mua bán vật tư, tiêu thụ sản phẩm, tư vấn sản xuất …) nên nhu cầu tín dụng vốn trong nông thôn hiện nay có các ngân hàng thương mại, ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng đầu tư phát triển, ngoài ra của còn có ngân hàng của người nghèo, các dự án của các tổ chức trong nước hay quốc tế, quỹ tín dụng nhân dân (hợp tác xã tín dụng kiểu mới) các tư nhân cho vay trong hay ngoài nông thôn [29, trg 87]. Dịch vụ kỹ thuật sản xuất, trong đó quan trọng nhất là các dịch vụ sản 12 n xuất nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp. Đối với những vùng sản xuất chuyên canh lớn, đặc biệt là sản xuất nông sản xuất khẩu thì dịch vụ kỹ thuật sản xuất có vai trò lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm.