Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển năng lượng tái tạo vì sự phát triển kinh tế bền vững ở một số quốc gia châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hoàng Thị Xuân thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2022), chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (mã số: 9.06), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hoàng Thị Thanh Nhàn và PGS.TS. Trần Ngọc Ngoạn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh toàn cầu đang đặt ra thách thức kép: nhu cầu năng lượng phục vụ tăng trưởng kinh tế ngày càng gia tăng, trong khi các quốc gia phải đồng thời cắt giảm phát thải khí nhà kính nhằm thực thi cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (COP26). Nguồn nhiên liệu hóa thạch truyền thống (than đá, dầu mỏ, khí đốt) đối mặt với nguy cơ cạn kiệt, gây ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu diện rộng. Bên cạnh đó là rủi ro mất an toàn từ điện hạt nhân cùng các xung đột địa chính trị dẫn đến khủng hoảng năng lượng (tiêu biểu như xung đột Nga – Ukraine). Trong điều kiện đó, năng lượng tái tạo (NLTT) được xác định là nguồn năng lượng bổ sung quan trọng và từng bước thay thế nhiên liệu hóa thạch, hướng tới phát triển kinh tế bền vững (PTKTBV). Dự báo được trích dẫn cho thấy tỷ trọng NLTT trong cơ cấu năng lượng toàn cầu đạt khoảng 12,4% vào năm 2023 và hướng tới khoảng 30% vào năm 2050.
Tại Việt Nam, giai đoạn 2011–2020 ghi nhận mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,9%/năm, kéo theo nhu cầu điện thương phẩm tăng 9,5%/năm. Dự báo giai đoạn đến năm 2030, GDP tăng trưởng khoảng 6–7%/năm, đòi hỏi điện thương phẩm duy trì mức tăng 8,5–9,5%/năm. Theo Dự thảo Quy hoạch điện VIII, nguồn điện NLTT (không tính thủy điện) được quy hoạch tăng từ 17.000 MW lên 31.600 MW vào năm 2030, chiếm 24,3% tổng công suất đặt. Đồng thời, Việt Nam tham gia cam kết SDG 7 (tiếp cận năng lượng sạch, bền vững), SDG 13 (hành động ứng phó biến đổi khí hậu) và Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050, với mục tiêu nâng tỷ trọng NLTT đạt 15–20% tổng cung cấp năng lượng sơ cấp vào năm 2030. Sở hữu hơn 3.000 km bờ biển, khí hậu nhiệt đới gió mùa và nền nông nghiệp quy mô lớn, Việt Nam có tiềm năng lớn về điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối. Việc phân tích kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia châu Á có điều kiện tương đồng trở thành nhu cầu cấp bách nhằm giải quyết bài toán phát triển NLTT gắn với tăng trưởng xanh.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ khía cạnh kỹ thuật, tiềm năng hoặc chính sách riêng biệt của NLTT, thiếu các công trình hệ thống hóa mối quan hệ tác động qua lại giữa phát triển NLTT với các tiêu chí PTKTBV; đồng thời chưa có công trình nào đúc kết toàn diện các bài học kinh nghiệm gắn kết giữa phát triển NLTT và PTKTBV từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản để chuyển giao giải pháp cho Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích thực tiễn phát triển NLTT và tác động của phát triển NLTT đến PTKTBV tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm nhằm đề xuất giải pháp cho Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 4 nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến phát triển NLTT, phát triển kinh tế bền vững và tác động của phát triển NLTT đến PTKTBV.
- Phân tích tiềm năng, thực trạng, thách thức, chính sách phát triển NLTT và tác động của phát triển NLTT đến PTKTBV ở ba quốc gia châu Á: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.
- Phân tích kinh nghiệm phát triển NLTT ở các quốc gia nghiên cứu; rút ra các bài học kinh nghiệm chung và kinh nghiệm riêng của từng nước.
- Phân tích bối cảnh, tiềm năng, thực trạng, thách thức, chính sách phát triển NLTT và tác động đến PTKTBV ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển NLTT hướng đến mục tiêu PTKTBV tại Việt Nam dựa trên kinh nghiệm tiếp thu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển NLTT và tác động của phát triển NLTT đến PTKTBV tại một số quốc gia châu Á.
- Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn trọng tâm vào 3 nguồn NLTT gồm năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng sinh khối (đây là các dạng năng lượng phù hợp với tiềm năng tự nhiên của Việt Nam). Về khía cạnh phát triển bền vững, luận án tập trung xem xét 3 tác động chính: tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và giảm hao tốn tài nguyên.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2006 đến thời điểm thực hiện (năm 2006 đánh dấu thời điểm Luật Năng lượng tái tạo của Trung Quốc chính thức có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2006; đây cũng là mốc thời gian chứng kiến sự gia tăng chính sách NLTT trên toàn cầu, từ 15 quốc gia năm 2005 lên 144 quốc gia năm 2014).
- Phạm vi không gian: Tập trung vào 4 quốc gia: Trung Quốc (nền kinh tế chuyển đổi có xuất phát điểm thấp nhưng đạt quy mô lớn về NLTT), Hàn Quốc (quốc gia phát triển tầm trung với phương thức tận dụng sinh khối và điện mặt trời), Nhật Bản (quốc gia phát triển phụ thuộc 96% năng lượng sơ cấp nhập khẩu) và Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Chương tổng quan của luận án đã phân loại và phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm chủ đề và địa bàn nghiên cứu.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Phát hiện và luận điểm chính trích xuất từ văn bản |
| Phát triển NLTT tại Trung Quốc |
Lin, B. (2019) |
Phân tích đổi mới công nghệ NLTT giai đoạn 2000–2015; đầu tư R&D của chính phủ và doanh nghiệp thúc đẩy giảm phát thải CO2; cơ chế giá năng lượng chưa hợp lý làm giảm tác động của giá đến đổi mới công nghệ. |
|
He, J. và cs (2018) |
Điện sinh khối phát thải giai đoạn xây dựng thấp hơn điện gió và điện mặt trời (~1.700 tấn CO2/năm); thời gian hoàn vốn phát thải ròng là 0,39 năm; phát thải vòng đời đạt 42–85 g CO2/kWh. |
|
Martinot, E. (2007); Huang, C. và cs (2012) |
Đánh giá Luật NLTT Trung Quốc (2005/2006), chính sách đấu thầu điện gió; chỉ ra ngân sách R&D cho NLTT chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi R&D quốc gia, thiếu cơ chế thu hút tư nhân do phụ thuộc vào viện/trường công. |
|
Nguyễn Hùng Cường (2017) |
Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng chính sách NLTT tại Trung Quốc, chỉ ra thành công và hạn chế để gợi ý cho Việt Nam. |
| Phát triển NLTT tại Hàn Quốc và Nhật Bản |
Soojin Kim (2020); Ko Dong-hwan (2020) |
Cảnh báo việc trợ cấp quá mức cho sinh khối từ gỗ rừng làm phá vỡ cân bằng sinh thái; cảnh báo áp lực môi trường từ rác thải pin mặt trời hết hạn tại Hàn Quốc, đòi hỏi ngành tái chế chuyên biệt. |
|
Zhu, D. và cs (2020); Takatoshi Kojima (2012) |
Nhật Bản phụ thuộc 96% năng lượng sơ cấp nhập khẩu; phân tích tính cấp thiết của đa dạng hóa nguồn cung và kịch bản phát triển NLTT nhằm bảo đảm an ninh năng lượng sau các cú sốc cung ứng. |
|
Viktor Tachev (2021); Moe (2012) |
Tiềm năng điện gió ngoài khơi tại Nhật Bản; phân tích rào cản từ cấu trúc lợi ích ưu đãi hiện hữu của các ngành năng lượng truyền thống cản trở ngành mới. |
| Tác động của NLTT đến PTKTBV |
Lin, B. (2014); Chen, J. và cs (2021) |
Kiểm định quan hệ nhân quả hai chiều dài hạn giữa tiêu thụ NLTT và tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc; NLTT đáp ứng tăng trưởng và giảm phát thải CO2. |
|
Dai, H. và cs (2016) |
Kịch bản NLTT đạt 56% năng lượng sơ cấp vào năm 2050 tại Trung Quốc: ngành điện không hóa thạch đóng góp 3,4% GDP, kích thích sản lượng 1,18 nghìn tỷ USD từ ngành công nghiệp thượng nguồn, tạo ra 4,12 triệu việc làm. |
|
Fang, Y. (2011) |
Tiêu thụ NLTT (REC) tăng 1% giúp GDP thực tế tăng 0,120%, GDP bình quân đầu người tăng 0,162%, thu nhập hộ nông thôn tăng 0,444%, hộ thành thị tăng 0,368%. |
|
Park, Soo-Ho và cs (2016) |
Khảo sát mức sẵn sàng chi trả (WTP) tại Hàn Quốc: mỗi hộ chỉ sẵn sàng trả thêm 388 KRW/tháng (văn bản ghi nhận tương đương 85 USD); phương án thay thế hoàn toàn điện hạt nhân bằng NLTT làm phát sinh thêm 35 nghìn tỷ KRW/năm, không khả thi về kinh tế. |
|
Adebayo, T. S. & Kirikkaleli, D. (2021) |
Sử dụng công cụ wavelet tại Nhật Bản xác định toàn cầu hóa và tăng trưởng GDP làm tăng CO2, trong khi tiêu thụ NLTT giúp giảm phát thải trong ngắn và trung hạn. |
| Phát triển NLTT tại Việt Nam |
Roman Vakulchuk và cs (2020) |
Đề xuất 6 giải pháp duy trì thành công đầu tư NLTT tại Việt Nam (thể chế, quy chuẩn, tiếp cận thị trường, minh bạch thông tin, quy hoạch lưới điện, hợp tác IRENA). |
|
Dư Văn Toán (2011); Lan Anh (2018) |
Đề xuất ban hành Luật Năng lượng tái tạo; dự báo NLTT có khả năng tạo 700.000 việc làm; định mức 1 GW pin mặt trời cần 1.300 lao động sản xuất dàn pin, 900 lao động sản xuất tấm pin, nhu cầu lắp đặt năm 2020 cần 1.500 lao động. |
|
Vũ Dung (2019); Quỳnh Chi (2019); Diệu Thúy (2019) |
Rào cản hợp đồng mua bán điện (PPA) thiếu minh bạch, giải phóng mặt bằng khó khăn, quá tải hạ tầng truyền tải điện, năng lực hạn chế của doanh nghiệp tư nhân. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Tổng hợp tài liệu cho thấy chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống sự tác động đồng thời của NLTT đến cả 3 chiều cạnh kinh tế bền vững (tăng trưởng, lao động - việc làm, tài nguyên môi trường) trong một khung phân tích thống nhất; đồng thời chưa có nghiên cứu so sánh đối chiếu kinh nghiệm chính sách giữa 3 mô hình kinh tế Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) để rút ra các hàm ý cụ thể tương thích với đặc thù thể chế và nguồn lực của Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Khái niệm năng lượng tái tạo: Luận án rà soát định nghĩa của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA - năng lượng có nguồn gốc tự nhiên, bổ sung nhanh hơn tốc độ tiêu thụ), định nghĩa của Omar và cs (nguồn liên tục, vô hạn), và Dự thảo Nghị định của Bộ Công Thương năm 2009. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa làm việc: "Năng lượng tái tạo là năng lượng có nguồn gốc từ các quá trình tự nhiên của Trái Đất, không hữu hạn hoặc không thể sử dụng hết và ít gây tác động xấu đến môi trường". Các dạng NLTT chính gồm: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh khối, thủy điện nhỏ (dưới 50 MW), nhiên liệu hydrogen và pin nhiên liệu hydro, năng lượng địa nhiệt, năng lượng đại dương. Thủy điện lớn (trên 50 MW) bị loại trừ do tác động môi trường tiêu cực.
- Khái niệm phát triển kinh tế bền vững: Luận án tiếp cận PTKTBV dựa trên tiêu chí tăng trưởng kinh tế ổn định đi liền với bảo đảm việc làm, cải thiện phúc lợi xã hội và giảm thiểu hao tổn tài nguyên, phát thải ô nhiễm.
- Khung phân tích của luận án (Hình 2.1): Luận án xây dựng khung phân tích liên kết giữa: Các điều kiện phát triển NLTT $\rightarrow$ Chính sách và cơ chế điều tiết của Nhà nước $\rightarrow$ Thực trạng phát triển 3 phân ngành (mặt trời, gió, sinh khối) $\rightarrow$ Tác động đến 3 trụ cột PTKTBV (tăng trưởng GDP, việc làm, tiết kiệm tài nguyên/môi trường).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cách tiếp cận của phát triển bền vững và quan hệ kinh tế quốc tế, triển khai kết hợp các phương pháp định tính:
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Áp dụng tại Chương 3 để mổ xẻ thực tiễn phát triển NLTT tại ba quốc gia đại diện: Trung Quốc (nước đang phát triển/chuyển đổi quy mô lớn), Hàn Quốc (quốc gia công nghiệp hóa tầm trung), Nhật Bản (quốc gia phát triển dẫn đầu phụ thuộc nhiên liệu nhập khẩu).
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm hệ thống hóa các lý thuyết về năng lượng, tăng trưởng xanh và các kết quả nghiên cứu định lượng thứ cấp đã công bố.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp số liệu thống kê: Vận dụng tại Chương 3 và Chương 4 để xử lý các dãy số liệu thứ cấp về công suất lắp đặt, sản lượng phát điện, cơ cấu nguồn, mức phát thải và việc làm.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Sử dụng để phân tích sự tương đồng, khác biệt trong cấu trúc chính sách (biểu giá hỗ trợ FiT, hạn ngạch RPS, cơ chế chứng chỉ REC, đấu thầu) giữa ba quốc gia châu Á, từ đó chắt lọc bài học thích ứng cho bối cảnh Việt Nam.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Luận án sử dụng hoàn toàn nguồn dữ liệu thứ cấp được công bố chính thức từ: các tổ chức quốc tế (IEA, IRENA, REN21, Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED); các cơ quan quản lý năng lượng quốc gia (Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc - MoTIE, Bộ Công Thương Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN); hệ thống văn bản pháp quy (Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 1658/QĐ-TTg, Dự thảo Quy hoạch điện VIII); và các bài báo khoa học chuyên ngành trên các tạp chí quốc tế (Applied Energy, Energy Policy, Renewable and Sustainable Energy Reviews).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu lý luận và thực nghiệm theo hai cụm địa bàn: quốc tế (tập trung vào Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) và Việt Nam. Các công trình được phân chia theo hai tuyến: thực trạng/chính sách NLTT và mối quan hệ giữa tiêu thụ NLTT với PTKTBV.
Luận điểm rút ra từ Chương 1 khẳng định sự thống nhất trong y văn quốc tế về vai trò của NLTT trong việc cắt giảm phát thải CO2, bảo đảm an ninh năng lượng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tuy nhiên, các phát hiện thực nghiệm cũng chỉ rõ những rủi ro đi kèm nếu quản lý thiếu đồng bộ:
- Tại Trung Quốc: Đổi mới công nghệ phụ thuộc lớn vào tài trợ của các chương trình khoa học quốc gia, khu vực tư nhân thiếu động lực R&D (Huang và cs, 2012); sự mất cân đối vùng miền nghiêm trọng giữa các trung tâm phát triển (Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông) với các khu vực còn lại (Wang và cs, 2020).
- Tại Hàn Quốc: Chính sách kích thích quá mức điện sinh khối dẫn đến phá rừng và gia tăng phát thải khí nhà kính (Soojin Kim, 2020); rác thải tấm pin PV gây áp lực ô nhiễm hóa chất nặng nề (Ko Dong-hwan, 2020). Khảo sát kinh tế lượng của Park và cs (2016) chỉ ra sự bất khả thi về mặt tài chính nếu loại bỏ hoàn toàn điện hạt nhân để phụ thuộc hoàn toàn vào NLTT (chi phí bù đắp lên tới 35 nghìn tỷ KRW/năm).
- Tại Nhật Bản: Quá tải hệ thống truyền tải điện do các dự án PV bùng nổ vượt quá năng lực tiếp nhận của lưới điện (Evonne Chang, 2013); các rào cản thể chế xuất phát từ cấu trúc ngành năng lượng truyền thống làm chậm trễ tiến trình thâm nhập của công nghệ mới (Moe, 2012).
- Tại Việt Nam: Các nghiên cứu chỉ ra rào cản chi phí vốn cao, vướng mắc trong hợp đồng mua bán điện PPA, quá tải lưới điện truyền tải và thiếu vắng quy chuẩn kỹ thuật (Vũ Dung, 2019; Diệu Thúy, 2019). Văn bản Chương 1 khép lại bằng việc xác định các khoảng trống tri thức mà luận án cần trực tiếp xử lý ở các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển năng lượng tái tạo vì sự phát triển kinh tế bền vững
Chương 2 thiết lập khung lý luận định nghĩa và phân loại NLTT, đồng thời làm rõ 3 nội dung cốt lõi:
1. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của NLTT:
- Ưu điểm: Tính chất vô hạn, trữ lượng dồi dào; tính chất sạch, thân thiện môi trường (NLTT không chứa gốc carbon nên không phát thải khí nhà kính trong vận hành; điện sinh khối khi đốt phát thải CO2 nhưng được bù trừ bằng quá trình quang hợp hấp thụ carbon của sinh khối, tạo chu trình tuần hoàn trung hòa carbon); khả năng cung cấp điện phân tán cho vùng sâu, vùng xa, hải đảo phục vụ xóa đói giảm nghèo.
- Nhược điểm: Độ ổn định thấp, phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết (điện mặt trời chỉ phát điện ban ngày, hiệu suất phụ thuộc mây mưa; tuabin gió chỉ vận hành trong dải tốc độ gió từ 4 m/s đến 25 m/s, dưới 4 m/s cánh quạt không khởi động, trên 25 m/s tuabin bắt buộc dừng hoạt động để tránh hư hỏng cơ khí); khó khăn trong lưu trữ năng lượng quy mô lớn; chi phí công nghệ ban đầu cao; phát sinh ngoại ứng tiêu cực (rác thải tấm pin PV sau vòng đời, tiếng ồn và sóng siêu âm của tuabin gió gây tổn hại khai thác thủy hải sản, suy giảm hệ sinh thái rừng do khai thác sinh khối quá mức).
2. Sáu điều kiện tiên quyết để phát triển NLTT:
- Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên.
- Tiềm lực vốn đầu tư và năng lực tài chính quốc gia.
- Cơ sở hạ tầng hệ thống lưới điện truyền tải.
- Trình độ kỹ thuật, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực chuyên sâu.
- Khung khổ chính sách, hành lang pháp lý và quyết tâm thực thi của Nhà nước.
- Mức độ nhận thức của Chính phủ và cộng đồng xã hội.
3. Sáu nhóm thách thức lớn đối với phát triển NLTT:
- Chi phí và giá cả: Suất đầu tư ban đầu lớn, chi phí đánh giá tác động môi trường và cấp phép kéo dài làm giá thành NLTT cao hơn năng lượng hóa thạch, giảm sức cạnh tranh.
- Triển khai xây dựng và mặt bằng: Trang trại điện gió, mặt trời chiếm dụng quỹ đất lớn, xung đột với quy hoạch đất đai địa phương; gây ô nhiễm tiếng ồn, suy giảm mỹ quan đô thị; thủ tục cấp phép phức tạp.
- Nhận thức chưa đúng đắn: Tư duy coi NLTT chỉ là nguồn phụ trợ; ưu tiên phát triển dự án tập trung quy mô lớn, bỏ rơi mô hình phân tán tự sản tự tiêu; sự chi phối của các tập đoàn năng lượng truyền thống vận động chính sách bảo vệ nhiệt điện than.
- Trợ cấp cho năng lượng hóa thạch: Cơ chế trợ giá nhiên liệu hóa thạch vô hình trung tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng đối với NLTT.
- Rào cản tài chính và chính sách: Thiếu vốn tín dụng ưu đãi, thông tin thị trường bất đối xứng, quy trình cấp phép và đấu nối hành chính rườm rà, thiếu tính ổn định lâu dài của các chính sách khuyến khích.
- Hạ tầng kỹ thuật truyền tải: Lưới điện quốc gia vốn được thiết kế cho các nhà máy điện truyền thống sử dụng máy phát điện đồng bộ; việc hòa lưới các nguồn điện có tính dao động cao như gió và mặt trời gây nguy cơ mất an toàn, đòi hỏi chi phí cải tạo lưới điện và đường dây truyền tải liên vùng rất lớn.
Chương 3: Phát triển năng lượng tái tạo vì sự phát triển kinh tế bền vững ở một số quốc gia Châu Á
Chương 3 sử dụng phương pháp case study để đánh giá thực trạng phát triển NLTT (tập trung vào điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối) gắn với PTKTBV tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Luận án tổng hợp hệ thống số liệu công suất, sản lượng và cấu trúc chính sách qua các bảng thống kê chuyên đề:
- Trung Quốc: Khai thác quy mô lớn cả 3 phân ngành. Luật Năng lượng tái tạo ban hành năm 2005 (hiệu lực 2006) tạo bước ngoặt thể chế, áp dụng biểu giá hỗ trợ FiT, cơ chế đấu thầu cạnh tranh và quỹ trợ cấp NLTT quốc gia. NLTT tác động tích cực đến tăng trưởng và việc làm, song Trung Quốc đối mặt với thách thức lãng phí công suất do nghẽn mạch truyền tải từ các tỉnh miền Tây giàu tài nguyên về các trung tâm tiêu thụ ven biển miền Đông, cùng với đó là sự mất cân đối vùng miền sâu sắc.
- Hàn Quốc: Tập trung đẩy mạnh điện mặt trời và tận dụng phụ phẩm sinh khối (viên nén gỗ, vỏ hạt cọ nhập khẩu). Hàn Quốc áp dụng Tiêu chuẩn danh mục đầu tư năng lượng tái tạo (RPS) bắt buộc các nhà máy phát điện lớn phải có tỷ lệ NLTT nhất định, kết hợp giao dịch Chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC). Thách thức tại Hàn Quốc là gánh nặng tài chính từ chi phí hỗ trợ, áp lực môi trường từ xử lý pin mặt trời hết hạn và việc khai thác sinh khối làm tổn hại tài nguyên rừng.
- Nhật Bản: Sau cú sốc dầu mỏ thập niên 1970 và biến cố hạt nhân Fukushima năm 2011, Nhật Bản tái cơ cấu năng lượng triệt để nhằm giảm tỷ lệ 96% năng lượng sơ cấp nhập khẩu. Chính sách FiT ban hành năm 2012 thúc đẩy bùng nổ điện mặt trời quy mô lớn. Thách thức lớn của Nhật Bản là địa hình đồi núi hạn chế quỹ đất, chi phí lắp đặt ngoài khơi đắt đỏ, hệ thống lưới điện chia cắt tần số giữa hai miền (50 Hz và 60 Hz) gây cản trở truyền tải, cùng với sự xung đột lợi ích từ các tập đoàn năng lượng truyền thống sở hữu hạ tầng lưới điện độc quyền.
- Bài học kinh nghiệm: Luận án đúc kết các bài học chung (vai trò định hướng của luật khung, tính đồng bộ của quy hoạch hạ tầng lưới điện, chuyển dịch từ trợ giá cố định FiT sang cơ chế thị trường/đấu thầu) và bài học đặc thù của từng nước cho chuyển đổi năng lượng.
Chương 4: Một số giải pháp phát triển năng lượng tái tạo vì sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam
Chương 4 tập trung vào thực trạng và giải pháp cho Việt Nam. Luận án phân tích bối cảnh tài nguyên tự nhiên thông qua Bảng 4.1 (Số liệu bức xạ mặt trời), Bảng 4.2 (Tiềm năng gió ở độ cao 65m) và Hình 4.1 (Cơ cấu công suất nguồn điện Việt Nam năm 2020).
Thực tiễn Việt Nam giai đoạn áp dụng Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg và Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về giá FiT điện mặt trời đã tạo ra sự tăng trưởng nóng về công suất, nhưng đồng thời bộc lộ các hạn chế:
- Lưới điện truyền tải cục bộ tại các tỉnh Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận) bị quá tải nghiêm trọng, dẫn đến việc phải cắt giảm công suất phát của các nhà máy điện mặt trời và điện gió.
- Hợp đồng mua bán điện mẫu (PPA) chưa đáp ứng các tiêu chuẩn tài trợ quốc tế (thiếu điều khoản bảo lãnh chấm dứt hợp đồng, rủi ro cắt giảm công suất do lưới điện thuộc về nhà đầu tư).
- Thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quản lý việc lắp đặt điện mặt trời mái nhà và quy định thu hồi, xử lý tấm pin PV thải bỏ.
- Biểu giá điện áp dụng đồng nhất giữa các vùng dẫn đến tập trung dự án quá mức tại các khu vực có bức xạ cao nhưng hạ tầng lưới điện yếu, thiếu cơ chế khuyến khích phân tán.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nhóm giải pháp phát triển NLTT gắn với mục tiêu PTKTBV tại Việt Nam bám sát Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị và Dự thảo Quy hoạch điện VIII:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Nghiên cứu xây dựng Luật Năng lượng tái tạo riêng biệt nhằm tạo sự đồng bộ thể chế; chuẩn hóa hợp đồng PPA tiệm cận thông lệ quốc tế để giảm thiểu rủi ro tài chính cho nhà đầu tư.
- Chuyển đổi cơ chế kinh tế: Chuyển đổi từ cơ chế giá hỗ trợ cố định (FiT) sang cơ chế đấu thầu chọn nhà đầu tư phát triển nguồn điện và áp dụng hạn ngạch RPS kết hợp thị trường chứng chỉ REC.
- Đầu tư hạ tầng truyền tải: Xã hội hóa đầu tư lưới điện truyền tải, cho phép khu vực tư nhân tham gia xây dựng hạ tầng đấu nối; nâng cấp hệ thống điều độ và lưu trữ năng lượng (pin tích năng BESS, thủy điện tích năng).
- Quy hoạch đất đai và bảo vệ môi trường: Tích hợp quy hoạch năng lượng vào quy hoạch sử dụng đất địa phương; xây dựng quy định bắt buộc về trách nhiệm thu hồi, tái chế tấm pin mặt trời và tuabin gió sau khi hết hạn vận hành.
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ và nhân lực: Khuyến khích R&D nội địa hóa thiết bị phụ trợ, đào tạo đội ngũ kỹ sư chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu vận hành công nghệ điện gió ngoài khơi và tích hợp lưới điện thông minh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và chuẩn hóa khái niệm khoa học về năng lượng tái tạo theo hướng gắn chặt với tiêu chí bảo vệ môi trường: loại trừ thủy điện quy mô lớn (trên 50 MW) ra khỏi danh mục NLTT chuẩn tắc do các hệ lụy sinh thái.
- Làm rõ cấu trúc lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển NLTT và ba chiều cạnh của PTKTBV (tăng trưởng GDP, việc làm, giảm tiêu hao tài nguyên); nhận diện có hệ thống 6 điều kiện nền tảng và 6 nhóm thách thức đặc thù trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
- Xây dựng khung phân tích liên ngành kết hợp giữa kinh tế học phát triển bền vững và kinh tế quốc tế để khảo sát quá trình chuyển dịch năng lượng tại các quốc gia đang phát triển.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về mô hình chính sách và thực trạng phát triển NLTT tại ba nền kinh tế Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), chỉ ra nguyên nhân thành công và các sai lầm cần tránh (tình trạng trợ cấp quá mức cho sinh khối rừng, rác thải tấm pin PV, nghẽn mạch truyền tải).
- Nhận diện các rào cản nội tại của hệ thống điện Việt Nam sau giai đoạn bùng nổ cơ chế giá FiT: điểm nghẽn hạ tầng lưới điện, rủi ro pháp lý hợp đồng mua bán điện, nguy cơ ô nhiễm môi trường thứ cấp và thiếu hụt chuỗi cung ứng công nghệ.
- Đề xuất gói giải pháp có tính khả thi cho Việt Nam: kiến nghị lộ trình xây dựng Luật Năng lượng tái tạo, chuyển đổi mô hình giá sang đấu thầu cạnh tranh, xã hội hóa lưới truyền tải và quy định trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong tái chế tấm pin quang điện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do giới hạn tiếp cận dữ liệu và nguồn lực, luận án chỉ tập trung vào 3 nguồn NLTT phổ biến (mặt trời, gió, sinh khối), chưa phân tích sâu các nguồn tiềm năng khác như địa nhiệt, sóng biển, dòng chảy đại dương hay công nghệ hydrogen xanh. Về mặt không gian, nghiên cứu giới hạn ở ba quốc gia châu Á. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên phân tích tài liệu thứ cấp và dữ liệu thống kê tổng hợp sẵn có, chưa triển khai các mô hình kinh tế lượng định lượng sơ cấp độc lập để đo lường hàm lượng đóng góp cận biên của NLTT vào tăng trưởng GDP tại Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế - môi trường của các công nghệ năng lượng mới nổi (hydro xanh, pin nhiên liệu, hệ thống tích trữ năng lượng BESS); ứng dụng các mô hình định lượng chuyên sâu (CGE, Input-Output đa vùng) để lượng hóa chi tiết tác động liên ngành của quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam theo các mốc cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Bộ Công Thương, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, EVN trong việc thiết kế cơ chế đấu thầu NLTT, đàm phán hợp đồng PPA chuẩn, và xây dựng khung thể chế cho Luật Năng lượng tái tạo cũng như kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII.
- Nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tổng quan toàn diện, khung phân tích lý luận và hệ thống dữ liệu kinh nghiệm quốc tế về kinh tế năng lượng, tăng trưởng xanh và kinh tế quốc tế.
- Các tổ chức tài chính và doanh nghiệp đầu tư năng lượng: Hỗ trợ nhận diện các rủi ro thể chế, rủi ro lưới điện và xu hướng vận động chính sách giá điện tại thị trường Việt Nam để đưa ra quyết định đầu tư an toàn.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại loại trừ các nhà máy thủy điện lớn (công suất trên 50 MW) ra khỏi danh mục năng lượng tái tạo?
Luận án định nghĩa NLTT là nguồn năng lượng từ tự nhiên, không cạn kiệt và ít gây tác động xấu đến môi trường. Mặc dù thủy điện lớn có nguồn gốc tự nhiên và tái tạo được nguồn nước, nhưng việc xây dựng đập và hồ chứa quy mô lớn (trên 50 MW) gây ngập lụt diện tích rừng, phá vỡ hệ sinh thái lưu vực sông, làm thay đổi dòng chảy phù sa và gây tác động tiêu cực nghiêm trọng đến môi trường sống của con người, do đó không được xếp vào danh mục NLTT trong nghiên cứu này.
2. Tốc độ gió tối thiểu và tối đa để các tuabin gió có thể vận hành phát điện là bao nhiêu?
Theo phân tích kỹ thuật tại Chương 2 của luận án, các tuabin gió chỉ có thể sinh điện khi vận tốc gió nằm trong dải từ 4 m/s đến 25 m/s. Khi vận tốc gió dưới 4 m/s, lực đẩy không đủ để cánh quạt quay đều phát điện; ngược lại, khi vận tốc gió vượt quá 25 m/s, hệ thống điều khiển cơ khí bắt buộc phải ngừng vận hành tuabin để phòng ngừa hỏng hóc và gãy cánh trong điều kiện gió bão mạnh.
3. Nghiên cứu của Dai và cs (2016) tại Trung Quốc đưa ra kịch bản phát triển NLTT đến năm 2050 với những con số dự báo kinh tế nào?
Trong kịch bản tỷ lệ NLTT đạt 56% tổng năng lượng sơ cấp vào năm 2050 (kịch bản RE max), ngành điện không hóa thạch sẽ trở thành ngành kinh tế chủ lực đóng góp 3,4% GDP (tương đương quy mô ngành nông nghiệp 2,5%, gang thép 3,3%). Phát triển NLTT quy mô lớn kích thích sản lượng trị giá 1,18 nghìn tỷ USD từ các ngành công nghiệp phụ trợ thượng nguồn và tạo ra 4,12 triệu việc làm mới, đồng thời cắt giảm phát thải khí nhà kính đáng kể.
4. Nghiên cứu thực nghiệm của Park và cs (2016) tại Hàn Quốc đưa ra kết luận gì về khả năng thay thế hoàn toàn điện hạt nhân bằng NLTT?
Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng duy nhất NLTT để thay thế điện hạt nhân và năng lượng hóa thạch tại Hàn Quốc là không khả thi về mặt kinh tế. Kết quả điều tra mức độ sẵn sàng chi trả (WTP) cho thấy mỗi hộ gia đình chỉ sẵn sàng trả thêm bình quân 388 KRW/tháng (tương đương 85 USD theo số liệu ghi trong văn bản). Trong khi đó, việc vận hành hệ thống điện 100% NLTT đòi hỏi chi phí bù đắp lên tới 35 nghìn tỷ KRW mỗi năm, vượt xa khả năng chi trả của người dân và ngân sách.
5. Luận án đề xuất tỷ trọng NLTT của Việt Nam cần đạt bao nhiêu phần trăm vào năm 2030 theo các cam kết chiến lược?
Căn cứ theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tỷ trọng NLTT được định hướng đạt 15–20% trên tổng cung cấp năng lượng sơ cấp. Đồng thời, theo Dự thảo Quy hoạch điện VIII được trích dẫn, công suất lắp đặt NLTT (không tính thủy điện) dự kiến tăng lên 31.600 MW vào năm 2030, chiếm 24,3% tổng công suất lắp đặt của toàn hệ thống điện quốc gia.
Kết luận
Luận án của tác giả Hoàng Thị Xuân là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa phát triển năng lượng tái tạo và phát triển kinh tế bền vững dưới giác độ kinh tế quốc tế. Bằng việc phân tích thực chứng các mô hình chính sách tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, tác giả đã đúc kết các bài học kinh nghiệm về quản lý hạ tầng lưới điện, cân đối chi phí tài chính và xử lý tác động môi trường thứ cấp. Hệ thống giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị nhằm hỗ trợ Việt Nam hoàn thiện khung khổ pháp lý, đổi mới cơ chế điều tiết thị trường và thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng bảo đảm các mục tiêu tăng trưởng xanh dài hạn.