Chương 1. Cơ sở lí luậո và thực tiễո của vấո đề phát triểո ոăոg lực vậո dụոg kiếո thức, kĩ ոăոg đã học cho học siոh và dạy học trải ոghiệm. Thiết kế kế hoạch dạy học trải ոghiệm và bộ côոg cụ đáոh giá sự phát triểո ոăոg lực vậո dụոg kiếո thức, kĩ ոăոg đã học cho học siոh. Thực ոghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC KĨ NĂNG ĐÃ HỌC CHO HỌC SINH VÀ DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Hiện nay, trong việc phát triển chương trình giáo dục thì phát triển năng lực (NL) cho HS được xem là một trong những quan điểm giáo dục chủ đạo và là vấn đề được quan tâm đặc biệt của hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố tác động, từ đó đề ra chiến lược và mô hình phát triển NL cho HS.
NL được đánh giá thông qua mối quan hệ đồng đẳng, hạnh kiểm, học lực, khả năng tham gia các hoạt động trong nhà trường. (1993), ‘‘The collected works of L. S Vygotsky’’, đã nhấn mạnh bản chất của việc học tập vốn là được trải nghiệm vào một môi trường văn hóa cụ thể. Mỗi một môi trường, người học sẽ phải thích nghi, hình thành các chuẩn, hành vi, kỹ năng, niềm tin, ngôn ngữ, thái độ phù hợp với bối cảnh [32].
Ministry of National Education (2012), ‘‘School Education in France’’, chương trình giáo dục Pháp chỉ rõ mục tiêu của giáo dục bắt buộc là phải đảm bảo ít nhất cung cấp cho từng HS những công cụ cần thiết để làm chủ một nền tảng chung, bao gồm tổng thể các kiến thức và NL không thể thiếu để thành công trong quá trình học trong nhà trường, tiếp tục quá trình học tập, tạo dựng tương lai nghề nghiệp và đạt được thành công trong cuộc sống [30]. Department for Education (2013), ‘‘The national curriculum in England’’, chương trình giáo dục Anh hướng tới nhiệm vụ trọng tâm là phát triển đầy đủ (NL trí tuệ, NL tinh thần, NL đạo đức, NL xã hội, NL văn hóa, NL thể chất) để HS có trải nghiệm, hình thành kinh nghiệm và tạo ra các cơ hội cho tương lai [27]. Tại Việt Nam, tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [3], trong đó đã xác định những phẩm chất và NL cốt lõi cần hình thành và phát triển cho HS bao gồm ba NL chung (NL tự chủ và tự 6 học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo) và các NL đặc thù (NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất). Với môn Hóa học, NL đặc thù cần hình thành là NL hóa học (gồm NL nhận thức hóa học, NL tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học, NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học).
Như vậy, NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học (NLVDKTKNĐH) được đưa ra và xác định là một trong ba mục tiêu cần đạt về NL của môn Hóa học. Đây là một NL tương đối mới nên đa phần đã và đang được nghiên cứu trong các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ ở các trường đại học. Bên cạnh đó, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về việc phát triển NLVDKTKNĐH cho HS trong giảng dạy được đăng trên các tạp chí khoa học như: Nhóm tác giả Lý Huy Hoàng và Trương Thị Hồng Phúc với bài báo ‘‘Thiết kế chủ đề giáo dục STEM dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 12 theo định hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh’’ (đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 3, năm 2022, trang 9-18) đã giới thiệu sơ lược về phát triển NLVDKTKNĐH cho HS thông qua giáo dục STEM, vận dụng mô hình 5E thiết kế chủ đề ‘‘Nhựa từ sữa’’ trong dạy học chương trình hóa học hữu cơ lớp 12; tác giả Trần Thị Kim Cúc với bài báo ‘‘Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh thông qua dạy học trải nghiệm môn Tự nhiên và Xã hội’’ (đăng trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Tập 3, Số 66, năm 2021, trang 55-62) đã đề cập đến việc phát triển NLVDKTKNĐH cho HS thông qua dạy học trải nghiệm môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Bài báo đã nêu ra được định nghĩa NLVDKTKNĐH, yêu cầu cần đạt về NLVDKTKNĐH của môn Tự nhiên và Xã hội và ý nghĩa của NLVDKTKNĐH trong môn Tự nhiên và Xã hội đối với HS tiểu học.
Cùng nghiên cứu về phát triển NLVDKTKNĐH cho HS, trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục Tập 1, Số 12, năm 2021, trang 11-13 có bài báo ‘‘Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh thông qua hệ thống bài tập tiếp cận PISA trong dạy học phần phi kim lớp 11’’ của nhóm tác giả Trần Thị Diệu Phương và Trần Trung Ninh. 7 Trong các nghiên cứu kể trên, các tác giả đều đã đề xuất được một số phương pháp dạy học (PPDH) nhằm phát triển NL nói chung và NLVDKTKNĐH nói riêng, đồng thời đề xuất một số phương pháp (PP) đánh giá để đánh giá NLVDKTKNĐH cho HS như: PP đánh giá qua quan sát, PP hỏi - đáp, PP kiểm tra viết, PP đánh giá sản phẩm học tập, PP đánh giá hồ sơ học tập. Như vậy, có thể thấy việc nghiên cứu NLVDKTKNĐH là tương đối mới, cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu. Đồng thời để đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục, phát triển NL cho HS và phổ cập chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, rất cần thiết đưa ra các biện pháp nhằm phát triển NLVDKTKNĐH và xây dựng các tiêu chí đánh giá về NLVDKTKNĐH ứng với mỗi nội dung chương trình trong dạy học hóa học.
Dạy học trải nghiệm Lý luận về dạy học trải nghiệm đã được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học quan tâm nghiên cứu và hoàn thiện từ khá sớm, cho tới những năm 80 – 90 của thế kỉ XX, Lý thuyết kiến tạo ra đời và phát triển, các tác giả của Lý thuyết kiến tạo quan niệm hoạt động học là quá trình người học tự kiến tạo, tự xây dựng tri thức cho chính mình. Ngoài ra, Lý thuyết kiến tạo cũng thống nhất quan điểm: hoạt động học được hiểu không phải là hoạt động nhận thức cá nhân thuần túy mà là hoạt động cá nhân trong sự tương tác, giao lưu với các cá thể khác, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh cụ thể. Một trong những lý thuyết nghiên cứu trực tiếp đến dạy học trải nghiệm là Lý thuyết học từ trải nghiệm (Experiential learning) của David Kolb [29] nêu ra: “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm. Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.
Cũng theo [29], quan điểm học tập qua hoạt động trải nghiệm còn gắn liền với rất nhiều tên tuổi của các nhà tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng khác qua từng thời kì, giai đoạn như: Kurt Lewin, William James, Cart Jung, Paulo Freire, Carl Rogers, … và hầu hết các học thuyết được đưa ra đều khẳng định vai trò, tầm quan trọng của hoạt động, của sự tương tác, của kinh nghiệm đối với sự hình thành nhân cách con người. Năng lực chỉ được hình thành khi chủ thể được hoạt động, được trải nghiệm. 8 Nhìn chung, những quan điểm lý thuyết trên được thế giới rất coi trọng, đề cao trong quá trình xây dựng các hoạt động dạy học trải nghiệm. Vận dụng quan điểm dạy học trải nghiệm sáng tạo, rất nhiều các quốc gia trên thế giới (Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Australia, Anh, …) đã đưa dạy học trải nghiệm vào chương trình giáo dục từ rất sớm và đã đạt được hiệu quả cao [31].
Tại Việt Nam, trong Nguyên lý giáo dục có nêu rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiệո theo ոguyêո lý học đi đôi với hàոh, giáo dục kết hợp với lao độոg sảո xuất, lý luậո gắո liềո với thực tiễո, giáo dục ոhà trườոg kết hợp với giáo dục gia đìոh và giáo dục xã hội”, Nghị quyết Hội ոghị Truոg ươոg 8 khóa XI về đổi mới căո bảո, toàո diệո Giáo dục và đào tạo cũոg đã đề cập đếո vấո đề tổ chức dạy học trải ոghiệm cho HS ոhư là một phươոg pháp dạy học tích cực troոg quá trìոh dạy học.