CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CĂN CỨ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm ở nhiều góc độ khác nhau trong lịch sử giáo dục trên thế giới. Nó vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo. John Dewey (1859 - 1952) phát biểu: "Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục".
Một loạt các phương pháp dạy học theo quan điểm, tư tưởng này đã được sử dụng: Phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác, phương pháp cá thể hoá… Nói chung đây là các phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe Thầy giảng, học thuộc mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức. Giáo viên là người trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức giúp học sinh biết cách làm, cách học. Chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỷ 21, thế kỷ mà sự tiến bộ không ngừng của khoa học - công nghệ với những bước nhảy vượt bậc một năm bằng hàng thế kỷ trước đó. Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp.
Về cách học, khuyến khích học sinh lấy tự học là chính, học tập một cách chủ động và sáng tạo. Việc hình thành và rèn luyện cho người học sự hiểu biết, tâm thế chủ động điều khiển quá trình học tập của bản thân mình, phát huy năng lực tự học của con người để tạo nên cuộc cách mạng về học tập là việc làm cấp thiết của các nhà giáo dục. Phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu là một vấn đề mang tính thời sự, là một trong những giải pháp để đổi mới PPDH được nhiều nhà giáo dục quan tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Trong các công trình đã xuất bản về hướng dẫn học sinh tự học ở Việt Nam, được biết đến nhiều nhất và phổ biến nhất là tuyển tập tác phẩm:" Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu" của Nguyễn Cảnh Toàn (sách này gồm 2 tập) do nhà xuất bản Trường đại học sư phạm và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2001 [17].
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thời gian qua, việc ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho người học cũng phát triển rất mạnh mẽ, điển hình như công trình nghiên cứu về: “Hiện đại hóa du học Nhật Bản” của Michiko Kaya (2003), “Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực” của Jef peeraer (2011), “Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động nhận thức vật lí tích cực chủ động sáng tạo"của Phạm Xuân Quế (2007), “Khảo sát thực trạng việc xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử và phần mềm hỗ trợ dạy học trực tuyến tại Đại học Thái Nguyên" của Nguyễn Minh Tân (2014) vv…[11], [12], [19] Trong những năm gần đây, có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ đề cập đến vấn đề nghiên cứu về việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng mạng Internet trong dạy học, xây dựng và sử dụng tài liệu điện tử để hỗ trợ cho quá trình dạy học, đồng thời tổ chức các lớp học nhằm hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh thông qua các mạng xã hội học tập. Một vài ví dụ điển hình như: Luận án tiến sĩ giáo dục của Vương Đình Thắng : “Nghiên cứu sử dụng MVT với Multime thông qua việc xây dựng và khai thác website dạy học vật lí 6 THCS” (Đại học Vinh, năm 2004). Luận án tiến sĩ giáo dục của Lê Huy Hoàng : “Thí nghiệm thực hành ảo - ứng dụng trong dạy học kỹ thuật công nghiệp lớp 12 trung học phổ thông” (Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2005). Luận án tiến sĩ giáo dục của Trần Huy Hoàng: “Sử dụng thí nghiệm với sự hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học một số kiến thức cơ - nhiệt THPT”.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Cuộc về: “Bồi dưỡng năng lực tự học chương “Mắt. Các dụng cụ Quang” Vật lí 11 với sự hỗ trợ của mạng xã hội học tập Edmodo. Năng lực tự học 1. Khái niệm năng lực "Trong khoa học tâm lí, người ta định nghĩa năng lực là tổng hợp những thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả".
Các nhà tâm lí học cho rằng: "Chỉ có các tư chất là bẩm sinh cũng năng lực thì được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động". Thái Duy Tuyên (1999), những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội. Giáo dục là một loại hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách của con người (trong đó có năng lực) theo những yêu cầu của xã hội, trong những giai đoạn lịch sử nhất định, thông qua chính hoạt động của học sinh trong mối quan hệ với cộng đồng. Dạy học ở nhà trường có khả năng tạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra những loại hình hoạt động học tập có hiệu quả cao, tránh được sự mụ mẫm của mỗi cá nhân.
Như vậy giáo dục, dạy học có thể mang lại sự tiến bộ cho mỗi học sinh và thúc đẩy sự phát triển các chức năng tâm lí của họ. Năng lực tự học "Năng lực tự học " là: Tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v.) của người học chiếm lĩnh tri thức kĩ năng. Những biểu hiện của năng lực tự học Dấu hiệu đánh giá năng lực tự học phát triển đó là: * Có khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự nhưng với chất lượng cao hơn. * Không rập khuôn máy móc mà phải luôn thích ứng với những tình huống mới.
* Có khả năng tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanh chóng. * Vận dụng kiến thức để giải quyết tốt những bài toán thực tế. * Định hướng nhanh, biết phân tích suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cách tối ưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Các biện pháp phát triển năng lực tự học 1.
Những điều kiện cần thiết để phát triển năng lực tự học của HS a. Đảm bảo cho học sinh có điều kiện tâm lí thuận lợi để tự lực học tập - Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm cái mới, ta thường gọi là xây dựng tình huống có vấn đề. Việc thường xuyên tham gia vào giải quyết các mâu thuẫn nhận thức này sẽ tạo ra thói quen, lòng ham thích hoạt động trí óc có chiều sâu, tự giác, tích cực. - Tạo môi trường sư phạm thuận lợi cho học sinh chủ động, tự lực tham gia vào quá trình nhận thức.
Học sinh từ lâu đã quen học thụ động, ít tự lực suy nghĩ, cho nên trong thời gian đầu thường rụt rè, lúng túng, chậm chạp và phạm sai lầm khi thực hiện các hành động học tập. Giáo viên cần phải biết chờ đợi, động viên, giúp đỡ và tổ chức lớp học sao cho học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến của riêng mình, nêu thắc mắc, tranh luận chứ không chỉ chờ sự nhận xét của Giáo viên. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tạo điều kiện để học sinh có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ được giao.
Vì chúng ta chủ trương thường xuyên đặt học sinh vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức cho nên sự thành công của họ trong việc giải quyết vấn đề học tập có tác dụng rất quan trọng làm cho họ tự tin, hứng thú, mạnh dạn suy nghĩ để giải quyết những vấn đề ngày càng khó hơn. Để giúp học sinh tránh tâm lí rụt rè, thiếu tự tin khi nhận nhiệm vụ, có thể thực hiện biện pháp sau: * Lựa chọn một logic bài học hợp lí: + Trước hết người Giáo viên phải phân chia bài học thành những đơn vị kiến thức nhỏ vừa với trình độ xuất phát của học sinh để các em có thể tự lực giải quyết vấn đề với sự cố gắng vừa phải. Cần phải có sự chọn lựa kĩ lưỡng một số vấn đề vừa sức và xác định mức độ mà học sinh có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể. + Trong giờ học, Giáo viên hạn chế thuyết trình, có thể giảm nhẹ nội dung kiến thức để giành thời gian rèn luyện cho học sinh năng lực tự lực học tập.
* Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hiện một số thao tác cơ bản: Gồm thao tác chân tay và thao tác tư duy + Thao tác chân tay trong học tập Vật lí chủ yếu là quan sát, sử dụng các thiết bị đo lường cơ bản, lắp ráp thí nghiệm… + Những thao tác tư duy hay dùng là phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoá … Các thao tác tư duy rất khó rèn luyện. Muốn đạt hiệu quả trong việc rèn luyện thao tác này cần kiên trì, bền bỉ, bắt đầu bằng những câu hỏi mà học sinh muốn trả lời phải thực hiện một số thao tác tư duy nào đó. Nếu học sinh chưa trả lời đúng, Giáo viên phải đưa ra câu hỏi đơn giản hơn. Cứ như thế nhiều lần, thường xuyên, học sinh sẽ quen, tích luỹ được kinh nghiệm, thực hiện đúng và nhanh hơn.
* Con đường nhận thức khoa học nói chung và nhận thức khoa học Vật lí nói riêng cần vận dụng chu trình sau: Mô hình - Giả thuyết Các hệ quả logic Trừu tượng Các sự kiện Kiểm tra - Thực nghiệm Khởi đầu - Xuất phát 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong học tập Vật lí, một mặt học sinh phải quan sát thực tế để cảm nhận được sự tồn tại của thực tế khách quan.