Luận Án Tiến Sĩ: Phát Triển Năng Lực Trực Giác Toán Học Cho Học Sinh THPT

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giáo dục phát triển năng lực trực giác toán học cho học sinh trong dạy học toán ở trường trung học, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Năng lực toán học và trực giác toán học

Năng lực toán họctrực giác toán học là hai khái niệm trọng tâm trong giáo dục toán học hiện đại. Năng lực toán học bao gồm khả năng giải quyết vấn đề, tư duy logic, và sáng tạo trong toán học. Trực giác toán học là khả năng nhận biết và dự đoán các mối quan hệ toán học một cách nhanh chóng và tự nhiên. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này giúp học sinh phát triển tư duy toàn diện, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục hiện đại, nơi mà việc phát triển năng lực cá nhân được coi trọng.

1.1. Vai trò của trực giác toán học

Trực giác toán học đóng vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo và giải quyết vấn đề. Nhà toán học Henri Poincaré từng nhấn mạnh: 'Óc logic chỉ là cằn cỗi nếu không được tắm nhuần bằng trực giác.' Điều này cho thấy, trực giác không chỉ là yếu tố bổ sung mà còn là nền tảng cho sự phát triển tư duy toán học. Trong giáo dục, việc rèn luyện trực giác toán học giúp học sinh hình thành khả năng dự đoán, tìm tòi, và khám phá các giải pháp sáng tạo.

1.2. Phát triển năng lực toán học

Phát triển năng lực toán học là một trong những mục tiêu chính của giáo dục toán học hiện đại. Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán năm 2018, việc hình thành và phát triển năng lực toán học bao gồm khả năng giải quyết vấn đề, tư duy logic, và sáng tạo. Để đạt được điều này, giáo viên cần chuyển từ phương pháp truyền thụ kiến thức sang tổ chức các hoạt động học tập giúp học sinh tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức.

II. Dạy học toán hiệu quả cho học sinh THPT

Dạy học toán hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp giữa phương pháp giảng dạy hiện đại và việc phát triển năng lực trực giác toán học cho học sinh. Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, việc chú trọng vào phát triển năng lực thay vì chỉ truyền đạt kiến thức đã trở thành xu hướng chủ đạo. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc dạy học toán ở bậc THPT, nơi học sinh cần được trang bị không chỉ kiến thức mà còn kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề.

2.1. Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là yếu tố then chốt trong việc phát triển năng lực trực giác toán học. Thay vì chỉ tập trung vào việc giải các bài toán mẫu, giáo viên cần tạo ra các tình huống học tập giúp học sinh tự khám phá và đưa ra các phán đoán. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức mà còn rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo và độc lập.

2.2. Tích hợp trực giác vào dạy học

Việc tích hợp trực giác toán học vào quá trình dạy học đòi hỏi giáo viên phải thiết kế các hoạt động học tập phù hợp. Các hoạt động này cần khuyến khích học sinh sử dụng trực giác để dự đoán kết quả, tìm tòi giải pháp, và kiểm tra tính đúng đắn của các phán đoán. Điều này giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy nhanh nhạy và sáng tạo.

III. Thực trạng và giải pháp phát triển năng lực trực giác toán học

Thực trạng dạy học toán ở bậc THPT hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế trong việc phát triển năng lực trực giác toán học cho học sinh. Phần lớn thời gian trên lớp được dành cho việc truyền đạt kiến thức và giải các bài toán mẫu, trong khi các hoạt động khám phá và sáng tạo bị xem nhẹ. Điều này dẫn đến việc học sinh thiếu khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn và giải quyết các vấn đề phức tạp.

3.1. Những thách thức trong dạy học toán

Một trong những thách thức lớn nhất trong dạy học toán là việc học sinh thường bị phụ thuộc vào kiến thức được cung cấp sẵn. Họ ít có cơ hội được tự tìm tòi và khám phá, dẫn đến việc học tập mang tính hình thức và thiếu sự sáng tạo. Để khắc phục điều này, giáo viên cần thay đổi phương pháp giảng dạy, tập trung vào việc phát triển năng lực trực giác toán học thông qua các hoạt động học tập tích cực.

3.2. Giải pháp phát triển năng lực trực giác

Để phát triển năng lực trực giác toán học, giáo viên cần thiết kế các hoạt động học tập giúp học sinh hình thành và rèn luyện khả năng dự đoán, tìm tòi, và khám phá. Các hoạt động này cần được tổ chức một cách hệ thống và khoa học, đảm bảo học sinh có cơ hội phát triển toàn diện các kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trực giác, trực giác toán học 1. Vấn đề trực giác, trực giác toán học trên thế giới Từ những năm 1930, vấn đề trực giác (Intuition) bắt đầu xuất hiện và được nghiên cứu trên những lĩnh vực khác nhau như triết học, tâm lí học, tôn giáo, đạo đức học, mỹ học, toán học và giáo dục học bởi nhiều tác giả nổi tiếng trên thế giới.

Với nhiều ý nghĩa quan trọng, cho đến nay TG vẫn tiếp tục được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt là các nhà giáo dục học. Trong khi, một số tác giả cho rằng TG như là một giác quan thứ sáu hay một sức mạnh huyền bí, mang tính thiên phú hay nhờ may mắn, ngẫu hứng thì các nhà khoa học đã nghiên cứu TG như một hiện tượng thực mà có thể xác định trong phòng thí nghiệm được quan sát thông qua quét não. TG không chỉ thể hiện ở chỗ sự lóe sáng các ý tưởng mới, đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện những khám phá, sáng tạo trong khoa học, mà hơn thế, các nhà nghiên cứu đã và đang dần dần giáo dục hóa lĩnh vực sáng tạo, cụ thể là có thể đem TG vào trong hoạt động dạy và học. Một số nhà giáo dục nổi tiếng như J.

Hogarth, Tall và Vinner, Tieszen. đã sử dụng TG như là một yếu tố quan trọng cần thiết trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Toán nói riêng. Mặc dù TG được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, ở đây chúng tôi trình bày các vấn đề có liên quan đến việc dạy học hướng tới phát triển TG cho người học trong dạy học Toán dựa trên cơ sở triết học, tâm lí học, toán học và giáo dục học: + Trong lĩnh vực triết học - Nhiều triết gia cũng đã đưa ra Thuyết trực giác (Intuitionism) như Kant, Hilbert và Bernays, Husserl, Godel, Parsons, Brouwer. Theo tư tưởng của Husserl về TG trong Toán học, có sự giống nhau giữa “ý định” và TG (Intention and Intuition).

- Thuyết trực giác của H. Bergson với tác phẩm “An Introduction to Metaphysics” năm 1946 [60] với hai cách khác nhau để nhận thức thực tại, đó là cách phân tích và cách trực giác (the way of analysis and the way of intuition). Ông cho rằng 9 phân tích có thể nắm bắt đối tượng bằng cách chia nhỏ các yếu tố của đối tượng, còn TG cung cấp ngay lập tức kiến thức của đối tượng trong sự toàn thể của đối tượng đó. Dummett xuất bản cuốn sách “Elements of Intuitionism” [68], giới thiệu kỹ lưỡng về toán học trực giác (Intuitionistic mathematics) và đưa ra nhìn nhận chung về lịch sử TG, dẫn dắt thông qua các khái niệm toán học và triết học, những công việc trước đó của Brouwer cũng được nghiên cứu lại và tính hoàn chỉnh của logic thứ tự TG cũng được làm sáng tỏ.

- Mối liên hệ giữa triết lí toán học và Thuyết trực giác trong Toán học (Intuitionism in Mathematics) cũng được nghiên cứu qua những công trình của nhiều triết gia như Wittgenstein, Gonzalez [73], D. với những khía cạnh phân tích sâu sắc khác nhau đã làm sáng tỏ thêm khái niệm TGTH. + Trong lĩnh vực tâm lí học - Trong tâm lí học nhận thức, các nhà tâm lí đã cống hiến cho việc nghiên cứu tiến trình nhìn thấu được bên trong sự vật, được định nghĩa là sự hiểu biết ngay lập tức được sự vật, kinh nghiệm “à há” sau khoảng thời gian giải quyết vấn đề không thành công. Hammond là một nhà tâm lí học đóng góp to lớn vào nghiên cứu sự phán đoán và đưa ra quyết định (judgment and decision making), ông đưa ra định nghĩa TG bởi sự đối lập với TDPT.

- Nhà tâm lí học A. Baylor đã đề cập đến sự phát triển TG và đưa ra ba thành phần của TG là sự nhanh chóng, mối liên hệ cảm giác và nguyên nhân, qua nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc về TG như [56], [57], [58]. + Trong lĩnh vực toán học: nhiều nhà toán học như Poincaré, Descartes, Hadamard, Koliagin, Kônmôgôrôp, Krutexki. đã đề cập đến TGTH và cho rằng TGTH là cách thức của việc chứng minh sự hiểu biết và vấn đề toán học.

- Nhà toán học Poincaré nhận định rằng TGTH là nền tảng xây dựng những công trình toán học và quá trình sáng tạo toán học gồm bốn giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị cho công việc có ý thức: nhà toán học huy động các thông tin hữu ích của một vấn đề cần giải, giai đoạn này các yếu tố suy luận và trực giác của việc tìm kiếm lời giải cùng tồn tại. Giai đoạn tiếp theo là tư duy vô thức, mà còn gọi là “thời gian ấp ủ”. Giai đoạn bừng sáng TG, một bước nhảy vọt về chất trong tiến trình nhận thức. Giai đoạn kiểm tra giải pháp của TG đề ra.

Từ đó, Poincaré nhấn mạnh giá trị của TG khi đưa ra kết luận về quá trình sáng tạo toán học từ kinh nghiệm của bản thân. - Nhà toán học người Pháp J. Hadamard trong tác phẩm “An Essay on the Psychology of Invention in the Mathematical Field” (1945) [74] đã xây dựng một cuộc 10 khảo sát hệ thống về quá trình làm việc của các nhà toán học từ đó nhận ra rằng nhiều khám phá toán học đã có trong khoảng thời gian dài ấp ủ một cách vô thức, sau đó đột ngột xuất hiện trong tâm trí. Như vậy, các nhà toán học trên đã mô tả quá trình khám phá toán học mà trong đó TGTH xem như là một trong các giai đoạn của quá trình đó tuy nhiên họ vẫn chưa trình bày về khái niệm TGTH một cách rõ ràng.

Dehaene đã công bố công trình khoa học viết về nguồn gốc của TGTH, trường hợp Số học [67], trình bày khái niệm TG số học - TG của những con số và sự chuyển hóa cơ bản của TG số học, chúng có liên quan đến hệ thống não bộ của con người và đề cập đến vấn đề sự kết nối giữa ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong Số học. + Trong lĩnh vực giáo dục học: các nhà giáo dục học quan tâm đến câu hỏi TG ảnh hưởng như thế nào đến người học trong tiến trình dạy học ở nhà trường, TG có thể đem giáo dục, đào tạo cho người học được hay không và đi tìm câu trả lời cho các vấn đề đó. Một số công trình liên quan đến TG trong quá trình dạy học như: - Trong [93], R. Wilder nhấn mạnh “TG đóng một vai trò nền tảng và không thể thiếu được trong nghiên cứu Toán cũng như trong PPDH hiện đại” [93, tr.

Ông đưa ra khái niệm TGTH và phân biệt ba vai trò của TGTH, từ đó khuyến khích PPDH hiện đại cần được thay thế việc dạy HS “làm điều này, làm điều kia” bởi “điều gì nên làm tiếp theo?” định hướng cho việc sử dụng PPDH tích cực nhằm phát triển nền tảng TGTH cho HS. Parsons đã phân tích khái niệm về TGTH từ quan điểm của các tác giả Kant, Husserl, Godel trong công trình khoa học “Mathematical Intuition” [85] được công bố năm 1980, Parsons bắt đầu lý giải sự rõ ràng của khái niệm này. Không giống như tác giả Godel, Parsons không tập trung khái niệm TGTH trên lý thuyết tập hợp, ông trình bày TGTH vào lĩnh vực hình học sơ cấp và số học. Parsons cho rằng khái niệm TGTH của Kant và Husserl đều bị ảnh hưởng bởi nền tảng toán học của giai đoạn vận dụng lý thuyết tập hợp vào tất cả lĩnh vực toán học.

Fischbein đã xuất bản cuốn sách “Intuition in Science and Mathematics: An Educational Approach” [70] về việc xây dựng TG như một lĩnh vực nghiên cứu trong giáo dục toán học, tổ chức và đề xuất ý nghĩa giáo dục cho việc học tập và giảng dạy Toán và khoa học. Cụ thể, ông quan tâm đến khía cạnh lí luận như khái niệm TG, sự kết nối TG và các yếu tố khác, đặc điểm và phân loại TG, chỉ ra các yếu tố góp phần hình thành TG: vai trò của kinh nghiệm, các loại mô hình và các yếu tố khác. Fischbein đã có những ý tưởng cho việc hình thành một hướng tiếp cận giáo dục toán với TGTH cả về mặt tâm lí nhận thức và thực tiễn giáo dục. - Công trình “Mathematical Intuition - Phenomenology and Mathematical 11 Knowledge” [87] của R.

Tieszen (1989) đã đề cập đến khái niệm TGTH, thảo luận vai trò của TG trong cơ sở của toán học. Theo cách tiếp cận riêng của ông, sử dụng sự xem xét hiện tượng để đến được với sự hiểu biết rõ ràng hơn về vai trò của TG trong kiến thức toán, phân tích những quan điểm về TG trong Toán học của các tác giả đã đưa ra Thuyết trực giác từ đó phát triển một số ý tưởng của Husserl về TG trong toán học, theo Tieszen TG được hiểu là “sự thực hiện của ý định”. Jagla đã đưa ra các khái niệm về TG, tưởng tượng, sự cần thiết kết hợp giữa TG và tưởng tượng, đặc biệt, Jagla đã tìm tòi cách thức để bồi dưỡng TG và tưởng tượng trong dạy học, từ đó nâng cao giá trị sử dụng TG và tưởng tượng của GV trong dạy học, xem xét trên một số chủ đề khuyến khích HS sử dụng quá trình TG và tưởng tượng trong cuốn sách “Teachers’ Everyday use of Imagination and Intuition: In Pursuit of the Elusive Image” [78] xuất bản năm 1994. - Trong cuốn sách “Educating Intuition” [76], R.

Hogarth đã khái niệm về TG một cách sâu sắc hơn, đó là cấu trúc gồm tiến trình, nội dung và các yếu tố liên quan. Kết luận chính của sách này chính là TG có thể đào tạo được và những cách thức để làm điều đó. Hỗ trợ cho kết luận này, ông cung cấp năm ý tưởng then chốt trong việc giáo dục TG ở mỗi con người. Năm ý tưởng đó là (1) Một tổ chức (con người) nhưng nhiều hệ thống xử lý thông tin, (2) Học tập định hình bởi kinh nghiệm, (3) Hai hệ thống cho việc học tập và thực hành, (4) TG như sự thành thạo và (5) Tiến hành phương pháp khoa học TG.

Sternberg (2008) biên tập quyển “Understanding and teaching the Intuitive Mind: Student and Teacher Learning” [90] đã tiếp cận lí luận và sư phạm về nguồn gốc, cấu trúc, chức năng, sự phát triển của khái niệm TG, kết nối các lí luận và các nghiên cứu về mối quan hệ giáo dục, không chỉ tập trung trên TDTG cho HS mà hướng đến niềm tin dạy học TG cho GV và sự vận dụng trong lớp học, tổ chức dạy học TG bởi giáo viên – niềm tin về dạy và học ảnh hưởng trong thực tiễn giáo dục. - Trong nghiên cứu “Intuition and Visualization in Mathematical problem solving” [72] của V.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phát Triển Năng Lực Trực Giác Toán Học Cho Học Sinh THPT Trong Dạy Học Toán là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc nâng cao khả năng trực giác toán học cho học sinh trung học phổ thông. Tài liệu này đề cập đến các phương pháp dạy học hiệu quả, giúp học sinh phát triển tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề thông qua các bài toán thực tiễn. Bằng cách kết hợp lý thuyết và thực hành, tài liệu mang lại lợi ích lớn cho giáo viên và học sinh trong việc tiếp cận toán học một cách sáng tạo và hiệu quả hơn.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp dạy học phát triển năng lực, bạn có thể tham khảo thêm Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học, tài liệu này cung cấp góc nhìn chi tiết về cách tiếp cận hình học trực quan. Ngoài ra, Thiết kế tình huống dạy học hiệu quả môn toán ở tiểu học cũng là một nguồn tham khảo hữu ích để hiểu rõ hơn về việc áp dụng các tình huống thực tế trong giảng dạy. Cuối cùng, Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua thí nghiệm quang vật lí lớp 11 sẽ giúp bạn khám phá cách sử dụng thí nghiệm để nâng cao năng lực tự học của học sinh.

Mỗi tài liệu trên đều là cơ hội để bạn đi sâu hơn vào các phương pháp giáo dục hiện đại và hiệu quả.