Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO TIẾP CẬN STEAM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non Ngày 08 tháng 10 năm 2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành “Thông tư số 26/2018/TT- BGDĐT quy định về chuẩn nghề nghiệp GVMN” [7], trong thông tư có nêu: “GVMN phải tuân thủ các quy định và rèn luyện đạo đức nhà giáo, ngoài ra người GV cũng phải biết chia sẻ kinh nghiệm học tập, rèn luyện. Bên cạnh đó, người GV cũng phải thường xuyên rèn luyện đạo đức, hỗ trợ đồng nghiệp và tạo dựng phong cách người GV”; “.nắm vững chuyên môn nghiệp vụ SPMN; thường xuyên cập nhật, nâng cao kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phát triển toàn diện trẻ em theo Chương trình GDMN.
Mặt khác, Thủ tướng Chính phủ có ra “Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 04 tháng 05 năm 2017, V/v tăng cường rèn luyện, nâng cao kĩ năng nghiệp vụ. đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay” [27], trong đó chỉ thị có nhấn mạnh một số nội dung sau: Đẩy mạnh triển khai giáo dục về khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học (Stem) trong chương trình GDPT; Thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, PPGD và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới, trong đó cần tập trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học (Stem), ngoại ngữ, tin học trong chương trình GDPT. Do đó, để đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay, đòi hỏi đội ngũ GVMN cần phải nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên đổi mới trong nhận thức và thực hiện các HĐGD, phải có sự chuyển biến, đổi mới trong việc tiếp thu lĩnh hội, áp dụng các PPDH theo hướng PTNL người học, nâng cao NL tổ chức HĐGD. từ đó nâng cao NL người học, đáp ứng yêu thực tiễn phát triển hiện nay.
4 Qua khảo sát phần I (phụ lục 1) NL tổ chức HĐGD của 12 GV chuyên ngành GDMN và 13 GV hiện đang giảng dạy tại khoa THMN (gọi chung là GVMN) trường CĐSP Điện Biên hiện nay cho thấy: 100% GVMN thường xuyên tổ chức dạy học cho SV theo hình thức dạy học cả lớp; 84% GVMN thường xuyên tổ chức dạy học cho SV theo hình thức nhóm; 100% GVMN thường xuyên sử dụng hình thức rèn luyện NVSP cho SV thông qua các nội dung thực hành của học phần, ngoài ra rèn luyện NVSP cho SV thông qua học phần rèn luyện NVSP hằng năm kết hợp với thực hành, thực tập tại trường MN; Với hình thức dạy học cá nhân, dạy học ngoài lớp học, tham quan, trải nghiệm, sinh hoạt chuyên đề 100% GV thỉnh thoảng hoặc hiếm khi mới thực hiện. 100% GV trong khoa được bồi dưỡng/tập huấn các chuyên đề về dạy học tích hợp, dạy học Stem/Steam, 92% chưa biết tới mô hình dạy học 5E/7E và quy trình kĩ thật EDP được sử dụng trong tổ chức HĐGD theo tiếp cận STEAM Để nâng cao NL tổ chức HĐGD, giảng dạy 100% GVMN trong khoa cũng thường xuyên vận dụng phối hợp nhiều PP, kĩ thuật DH tích cực vào trong giảng dạy kiến thức chuyên ngành: Trực quan, minh họa, thuyết trình, thực hành, HĐ nhóm, trải nghiệm. Tuy nhiên một số PPDH cần sử dụng trong tổ chức các HĐGD theo tiếp cận STEAM như: PP truy vấn, dạy học khám phá, đánh giá. thì rất hiếm khi hoặc thỉnh thoảng sử dụng cụ thể: PP truy vấn: 68% thỉnh thoảng sử dụng, 20% hiếm khi sử dụng, 2% không sử dụng; PPDH khám phá: 68% thỉnh thoảng sử dụng, 20% hiếm khi sừ dụng, 2% không sử dụng; Đánh giá: 64% hiếm khi sử dụng; 36% không sử dụng.
Ngoài việc sử dụng phiếu khảo sát đối với GV trong khoa về các hình thức tổ chức giáo dục cho SV hiện nay tại trường và việc tiếp cận cũng như sử dụng hình thức giáo dục theo tiếp cận STEAM vào nghiên cứu giảng dạy, nhóm tác giả còn dùng phương pháp phỏng vấn và quan sát việc vận dụng hình thức giáo dục theo tiếp cận STEAM vào trong dạy học, bồi dưỡng,cho SV ngành giáo dục mầm non tại trường là chưa thực hiện; có 4 GVMN đã nghiên từng nghiên cứu và làm đề tài về dạy học tích hợp hoặc dạy học stem nhưng là làm cho cấp trung học cơ sở trước khi chuyển sang khoa THMN công tác. Còn hầu hết là chưa từng nghiên cứu hay vận dụng dạy học theo tiếp cận STEAM vào tổ chức hoạt động cho SV. Qua kết quả khảo sát cho ta thấy NL tổ chức HĐGD của GVMN trong nhà trường về cơ bản đáp ứng được yêu cầu giảng dạy hiện nay, được thể hiện tốt qua PP 5 và tổ chức HĐGD. Tuy nhiên việc tổ chức các HĐGD mới chỉ dừng lại là đưa kiến thức đến với học trò, 18/25 GV (72%) đưa các PPDH nhóm, thực hành, trải nghiệm vào giảng dạy cho SV, còn lại chưa thường xuyên hoặc chưa đưa được các hình thức dạy học và PP dạy học theo tiếp cận hiện đại hiện nay vào trong quá trình tổ chức các HĐ học tập, đặc biệt là 100% GV chưa đưa dạy học theo tiếp cận STEAM vào trong bồi dưỡng giảng dạy, dạy học tích hợp cũng mới chỉ ở mức độ tích hợp đơn môn, liên hệ, thực hành, vận dụng, tích hợp đa môn có song còn hạn chế.
Trong khi đó sự đột phá từ kết nối các mạng thông tin số, về internet. dẫn đến những nguồn thông tin khổng lồ, đòi hỏi người công dân phải có kiến thức tư duy khoa học, logic, đáp ứng được các yêu cầu trong thời đại 4. Như vậy, về năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của GVMN cho SV ở trường CĐSP Điện Biên là đảm bảo, tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho SV cần cập nhật những phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục theo tiếp cận hiện đại, trong đó giáo dục theo tiếp cận STEAM là một trong những hình thức giáo dục đang được quan tâm hiện nay. Tổng quan nghiên cứu về phát triển năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non Việc PTNL tổ chức HĐGD cho SV ngành GDMN tại trường CĐSP Điện Biên được tổ chức thường xuyên trong năm, trong các học phần giảng dạy, thực hành, thực tập và thông qua các cuộc thi NVSP.
Trong chương trình đào tạo trình độ Cao đẳng ngành GDMN của nhà trường, SV không chỉ được cung cấp các lí thuyết chuyên sâu mà còn được cung cấp các kiến thực thực tế về chăm sóc và GDMN, được thường xuyên thực hành vận dụng các kiến thức đã học trong mỗi học phần vào thực tiễn cuộc sống. Thiết kế và tổ chức các HĐGD trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ. Tuy nhiên việc tích hợp mới chỉ dừng lại ở tích hợp đơn môn, liên hệ, thực hành chứ chưa có sự phối hợp kiến thức nhiều môn học để cùng giải quyết một vấn đề thực tiễn. Mặc dù GV trong tổ GDMN 11/12GV (91.7%) đã được tiếp cận với các PP, hình thức GD hiện đại như dạy học tích hợp, dạy học theo tiếp cận Stem, song trên thực tế vẫn chưa triển khai, đưa các phương giảng, hình thức đó vào giảng dạy các học phần, việc phối 6 hợp chuyên môn giữa các GV, giữa các môn học/học phần còn đơn lẻ, chưa có quy trình phối hợp hợp lí và hiệu quả.
Việc PTNL tổ chức HĐGD cho SV ngành GDMN còn được nhà trường CĐSP Điện Biên quan tâm, thường xuyên tổ chức cho SV dự giờ, thực hành, thực tập trải nghiệm tại các trường MN, thông qua các cuộc thi năng khiếu, nghiệp vụ chuyên môn. Kết quả việc PTNL tổ chức HĐGD cho SV mới chỉ thông qua kết quả học tập cuối học phần, kết quả các bài thực hành, thực tập, chứ chưa có các tiêu chí, bảng tiêu chí đánh giá cụ thể cho từng đối tượng SV về NL tổ chức các HĐGD. Bên cạnh đó GV trường CĐSP Điện Biên cũng thường xuyên vận dụng các PPDH tích cực như: HĐ nhóm, PP tự học, thực hành, tham quan, trải nghiệm. Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức sử dụng các PPDH tích cực đó vào PTNL tổ chức HĐGD cho SV, chứ chưa đánh giá được hiệu quả của các PP đó trong việc PTNL tổ chức HĐGD cho SV, đặc biệt việc vận dụng các PPDH hiện đại hiện nay vào giảng dạy là chưa thực hiện, một số GV mới chỉ thực hiện ở mức độ thử nghiệm trong quá trình làm đề tài nghiên cứu khoa học.
Qua đó, cho thấy việc PTNL tổ chức HĐGD cho SV ngành GDMN tại trường CĐSP Điện Biên được ban giám hiệu và giáo viên đặc biệt quan tâm bồi dưỡng cho SV. Tuy nhiên, cần cập nhật các hình thức phát triển năng lực theo hướng tiếp cận hiện đại như giáo dục theo tiếp cận STEAM cho SV, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1. Năng lực Theo Hoàng Phê-Từ điển tiếng Việt (2011), “NL” được hiểu như sau: “Là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một HĐ nào đó.
Hoặc là các phẩm chất tâm sinh lí giúp con người khả năng hoàn thành một HĐ nào đó có chất lượng cao” [24; tr71]; Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 3), “NL được coi là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng HĐ nào đó” [13; tr 41]; Theo CTDGPT 2018, của Bộ GD&ĐT NL được hiểu như sau: “Là khả năng thực hiện thành công một, một số, các HĐ trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy 7 động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ và các thuộc tính cá nhân khác như ý chí, niềm tin, vui thích. Ngoài ra NL của cá nhân còn được đánh giá thông qua phương, cách thức, kết quả HĐ của cá nhân đó khi trực tiếp giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [2]. Khái niệm “NL” tiếp tục được bổ sung và ngày càng được hoàn thiện thêm và chúng ta có thể thống kê thêm một số định nghĩa khác nữa về NL.