Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga với đề tài "Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học" được bảo vệ năm 2020 tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, thuộc chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt (mã số: 9140111), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Hiền Lương và PGS. Nguyễn Thị Hạnh.

  • Tính cấp thiết của đề tài: Bối cảnh thế kỷ XXI, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế tri thức đòi hỏi con người phải năng động, tự chủ và có năng lực sáng tạo (NLST). Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011 – 2020 (ban hành kèm Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ) khẳng định yêu cầu coi trọng giáo dục năng lực sáng tạo. Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 chính thức chuyển từ dạy học định hướng nội dung sang hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực, trong đó năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là một trong các năng lực chung cốt lõi. Trong môn Ngữ văn, văn bản văn học (VBVH) chiếm tỉ trọng lớn và mang những đặc trưng thẩm mỹ riêng, tạo ra cơ hội thuận lợi cho hoạt động tiếp nhận sáng tạo của học sinh.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Thực tiễn dạy học đọc hiểu VBVH ở trường trung học cơ sở (THCS) vẫn tồn tại tình trạng giáo viên thuyết trình, truyền thụ một chiều, nặng về phân tích, bình giảng áp đặt để phục vụ thi cử. Học sinh tiếp thu thụ động, thiếu cơ hội bộc lộ cách hiểu riêng từ trải nghiệm cá nhân, đi ngược lại nguyên lý của lý thuyết tiếp nhận văn học. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về NLST trước đây chủ yếu tập trung vào các môn khoa học tự nhiên (Toán học, Vật lí, Hóa học). Trong môn Ngữ văn, phần lớn nghiên cứu hướng vào rèn luyện kỹ năng viết sáng tạo hoặc đọc sáng tạo nói chung, chưa có công trình khoa học chuyên sâu, hệ thống về việc phát triển NLST cho học sinh THCS trong phân môn đọc hiểu VBVH.
  • Mục đích nghiên cứu: Xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
    1. Xác định cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học.
    2. Khảo sát thực trạng của việc dạy học môn Ngữ văn tại một số trường THCS.
    3. Đề xuất các biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học môn Ngữ văn THCS.
    4. Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của giả thuyết khoa học đã nêu.
  • Giả thuyết khoa học: Một trong những hạn chế của dạy học đọc hiểu VBVH hiện nay là chưa chú trọng đúng mức tới việc phát triển NLST của người học. Trong bối cảnh ấy, nếu thực hiện theo một số biện pháp sư phạm như luận án đề xuất thì việc dạy học đọc hiểu VBVH sẽ góp phần phát triển NLST cho học sinh THCS có hiệu quả hơn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các biện pháp phát triển NLST cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu VBVH; phạm vi thực nghiệm sư phạm giới hạn ở thể loại truyện, trên đối tượng học sinh lớp 9 tại một số trường THCS thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Tĩnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

1. Nghiên cứu về năng lực sáng tạo và dạy học phát triển năng lực sáng tạo

  • Nghiên cứu quốc tế: Vấn đề sáng tạo được ghi nhận từ thế kỷ III với nhà toán học Hy Lạp Pappus (thuật ngữ Heuristic - khoa học sáng tạo), tiếp nối qua Descartes, Leibniz, Bolzano. Đến thế kỷ XX, J.P. Guilford đưa ra mô hình cấu trúc trí tuệ gồm trí thông minh và sáng tạo, xác định các thuộc tính của tư duy sáng tạo: tính mềm dẻo, tính độc đáo, tính thành thục, tính chi tiết, tính nhạy cảm vấn đề. Robert J. Sternberg trong Handbook of Creativity tổng hợp 6 hướng tiếp cận nghiên cứu sáng tạo (gắn với Edward De Bono, Osborn, Von Oech, Freud, Guilford, Torrance, Amabile). Các tác giả Penick, Reid và King, Torrance, Yamamoto Kaoru nghiên cứu sáng tạo trong môi trường lớp học và thành tích học tập. Chương trình GDPT của Anh, Australia và Mỹ đều tích hợp kỹ năng/năng lực tư duy sáng tạo vào khung chuẩn cốt lõi.
  • Nghiên cứu trong nước: Huỳnh Văn Sơn, Trần Thị Bích Liễu, Phạm Thành Nghị nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ tâm lý học. Nhiều luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển NLST trong các môn khoa học cụ thể như Nguyễn Thị Hồng Gấm (2011), Trần Thị Huệ (2011), Đinh Thị Hồng Minh (2013), Hoàng Thị Thúy Hương (2015), Phạm Thị Bích Đào (2015), Đặng Thị Thu Huệ (2019). Về tư duy sáng tạo trong dạy học, có các công trình của Phạm Văn Hoàn, Hoàng Chúng, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Kế Hào, Vũ Quốc Chung, Trần Hiệp, Đỗ Long, Tôn Thân, Trần Luận, Trần Ngọc Lan, Trương Thị Tố Mai.

2. Nghiên cứu về sáng tạo trong môn Ngữ văn

  • Về viết sáng tạo: Nghiên cứu quốc tế của Juliet Enland (2009), Deirdre Fagan (2010), Michael Pearson, Tompkins (1982 đưa ra 7 lý do học sinh nên viết sáng tạo). Ở Việt Nam, Trần Thị Hiền Lương công bố các nghiên cứu về phát triển kỹ năng viết sáng tạo cho học sinh phổ thông.
  • Về tư duy sáng tạo trong dạy học văn: Các công trình của Nguyễn Trọng Hoàn (Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương), Dương Thị Mai Hương (Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh qua các giờ làm văn ở nhà trường trung học phổ thông), Nguyễn Thị Hồng Vân (2017 với bài báo xác định cấu trúc và đường phát triển năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn).

3. Nghiên cứu về sáng tạo trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học

  • Nghiên cứu quốc tế: Phylliss J. Adams (1968) và Russell khẳng định đọc hiểu sáng tạo đòi hỏi người đọc tạo ra các ý tưởng mới ngoài văn bản, trở thành đồng tác giả; Judith Langer (1992, 1995) nhìn nhận đọc văn là hành động kiến tạo nghĩa hướng tới chân trời vô tận của các khả năng; Robert E. Probst (1984), Frank Smith (2004), Louise Rosenblatt (1978), Ruddell (1984) nhấn mạnh bản chất tương tác đa chiều giữa người đọc, văn bản và môi trường tạo nghĩa.
  • Nghiên cứu trong nước: Phan Trọng Luận với công trình Văn chương bạn đọc sáng tạo xác lập vị thế người đọc tích cực; Trần Đình Sử xem đọc hiểu là khâu đột phá, dạy văn là dạy năng lực đọc và đọc sáng tạo là mức độ cao nhất; Nguyễn Thanh Hùng trong Đọc và tiếp nhận văn chương phân tích cơ chế đọc sáng tạo và "không gian bỏ vắng"; Hoàng Thị Mai nghiên cứu tư duy phê phán và sáng tạo trong cảm thụ văn học; Phạm Thị Thu Hương nghiên cứu chiến thuật đọc hiểu; Nguyễn Thị Thanh Hương nghiên cứu định hướng tiếp nhận sáng tạo tác phẩm văn chương theo loại thể.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào lý luận đọc sáng tạo, tiếp nhận sáng tạo nói chung hoặc rèn luyện viết sáng tạo. Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc cụ thể hóa khái niệm, xác lập cấu trúc - biểu hiện của NLST trong đọc hiểu VBVH ở cấp THCS, đồng thời đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ, được kiểm chứng qua thực nghiệm định lượng và định tính.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết năng lực: Dựa trên thuật ngữ Competence (năng lực hành động) và định nghĩa của Chương trình GDPT 2018: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính khác (hứng thú, niềm tin, ý chí) để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định trong bối cảnh cụ thể. Cấu trúc năng lực được tham chiếu từ mô hình 4 thành phần của Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường (chuyên môn, phương pháp, xã hội, cá thể); mô hình của Lương Việt Thái (tri thức, kỹ năng, điều kiện tâm lý); mô hình đầu vào - đầu ra của Hoàng Hòa Bình; và quan điểm phân giải thành tố, chỉ số hành vi của Nguyễn Thị Lan Phương.
  • Lý thuyết sáng tạo: Kế thừa quan điểm của Vưgôtxki, Guilford, Amabile và Phạm Thành Nghị: Sáng tạo là hoạt động tư duy làm ra cái mới, độc đáo, hợp lý và có giá trị xã hội. Luận án định nghĩa: NLST của học sinh trong đọc hiểu VBVH là việc làm ra cái mới, có ý nghĩa từ văn bản trước hết đối với bản thân học sinh; thể hiện qua việc phát hiện và kiến tạo nghĩa cho văn bản, đề xuất ý tưởng mới, đánh giá và vận dụng cái mới vào giải quyết vấn đề đời sống, sáng tạo ra sản phẩm mới trên cơ sở gợi ý của văn bản.
  • Lý thuyết tiếp nhận văn học: VBVH là một cấu trúc mở, có những khoảng trống ("không gian bỏ vắng") chờ đợi người đọc đồng sáng tạo, lấp đầy bằng vốn sống và trải nghiệm cá nhân; người đọc là chủ thể kiến tạo nghĩa chứ không phải người tiếp nhận thụ động.
  • Khái niệm đọc hiểu và năng lực đọc hiểu VBVH: Tiếp thu quan điểm của UNESCO, PISA (2009, 2012), Nguyễn Thị Hồng Vân và Đoàn Thị Thanh Huyền: Đọc hiểu VBVH là quá trình tương tác tích cực giữa người đọc với văn bản, bao gồm giải mã ngôn ngữ, hình tượng để hiểu nội dung, ý nghĩa, thông điệp; đánh giá, tạo nghĩa, phản hồi và vận dụng các giá trị của VBVH vào thực tiễn.

Luận án xây dựng khung cấu trúc gồm 4 thành tố và 11 biểu hiện của NLST ở học sinh THCS trong đọc hiểu VBVH:

Thành tố Biểu hiện cụ thể
1. Nhận ra ý tưởng mới 1.1. Nhận ra ý tưởng mới ở phương diện nội dung của VBVH.
1.2. Nhận ra ý tưởng mới ở phương diện hình thức nghệ thuật của VBVH.
2. Phân tích, đánh giá ý tưởng mới 2.1. Đưa ra quan điểm riêng về các yếu tố nội dung của VBVH.
2.2. Có những phát hiện, lí giải độc đáo về các yếu tố nghệ thuật của VBVH.
2.3. So sánh, đánh giá giữa văn bản này và văn bản khác thể hiện phát hiện sâu về nội dung và nghệ thuật.
3. Vận dụng vào bối cảnh mới 3.1. Đọc được văn bản mới tương tự.
3.2. Đưa ra những cách giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn cuộc sống.
3.3. Vận dụng giá trị của văn bản trong việc làm thay đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm của bản thân.
4. Thể hiện kết quả tiếp nhận bằng sản phẩm mới 4.1. Sản phẩm nói (nói lên ý tưởng, suy nghĩ riêng; bài trình bày về vấn đề mới trong VB).
4.2. Sản phẩm viết (viết đoạn/bài thể hiện suy nghĩ riêng; chuyển thể thể loại).
4.3. Sản phẩm khác (vẽ tranh, sân khấu hóa...).

2. Phương pháp nghiên cứu thực tế và nguồn dữ liệu

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các văn kiện giáo dục, chương trình môn học và các công trình khoa học trong nước, quốc tế.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy và học trong các giờ đọc hiểu VBVH ở trường THCS để khảo sát thực trạng và theo dõi diễn biến tại các lớp thực nghiệm, đối chứng.
  • Phương pháp điều tra giáo dục: Thiết kế phiếu hỏi và phỏng vấn sâu đối với giáo viên, học sinh tại các trường THCS ở Hà Nội và Hà Tĩnh dựa trên khung 11 biểu hiện NLST.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo giáo án thiết kế trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) ở khối lớp 9 (thể loại truyện); tiến hành kiểm tra đánh giá năng lực đầu vào và đầu ra.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu:
    • Dữ liệu định lượng: Nhập và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS, sử dụng thống kê mô tả (điểm trung bình, phân bố điểm) và kiểm định ANOVA để kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm đầu vào - đầu ra của nhóm TN, và giữa nhóm TN với nhóm ĐC (tổng thể cũng như theo từng biểu hiện cụ thể: 2.2, 3.3, 4.3).
    • Dữ liệu định tính: Mã hóa thông tin từ biên bản quan sát giờ dạy, băng ghi âm phỏng vấn giáo viên và sản phẩm học tập của học sinh.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu: Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2006 và 2018; SGK Ngữ văn THCS hiện hành; hệ thống các VBVH dùng trong dạy học và thực nghiệm (Làng, Lặng lẽ Sa Pa, Chiếc lược ngà, Bến quê, Sang thu, Đồng chí, Chuyện người con gái Nam Xương, Mẹ và quả); dữ liệu phiếu khảo sát và bài làm kiểm tra của học sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Chương 1 làm rõ các khái niệm: năng lực, cấu trúc năng lực, sáng tạo, NLST và NLST của học sinh THCS trong đọc hiểu VBVH.
  • Đặc trưng VBVH và cơ hội phát triển NLST: Tác giả phân tích 4 đặc trưng cốt lõi của VBVH: (1) Sáng tạo bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật đa trị, giàu biểu cảm; (2) Thể hiện qua các hình tượng nghệ thuật cụ thể và giàu tính khái quát; (3) Tính đa nghĩa mở ra nhiều tầng kiến giải; (4) Sản phẩm mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn. Những đặc trưng này biến VBVH thành "mảnh đất màu mỡ" kích thích người đọc giải mã, liên tưởng và đồng sáng tạo.
  • Mô hình biểu hiện NLST: Luận án phân tích chi tiết 4 thành tố và 11 biểu hiện của NLST trong đọc hiểu VBVH, cung cấp các ví dụ phân tích câu hỏi/bài tập minh họa cho từng biểu hiện qua các tác phẩm văn học lớp 9.
  • Lý thuyết tiếp nhận trong dạy học đọc hiểu: Khẳng định học sinh là chủ thể tiếp nhận tích cực, độc giả kiến tạo nghĩa, khỏa lấp khoảng trống trong văn bản mở.
  • Khảo sát thực trạng:
    • Khảo sát chương trình: Phân tích chương trình môn Ngữ văn/Ngôn ngữ của Mỹ, Anh, Australia, Singapore, Hàn Quốc và Việt Nam về khả năng phát triển NLST.
    • Khảo sát thực tiễn tại trường THCS: Điều tra giáo viên và học sinh tại Hà Nội và Hà Tĩnh. Kết quả cho thấy: Giáo viên chủ yếu dùng phương pháp thuyết trình, đàm thoại tái hiện; việc tổ chức cho học sinh nêu quan điểm riêng hoặc sáng tạo sản phẩm mới chưa diễn ra thường xuyên; học sinh còn lúng túng trong việc vận dụng giá trị văn bản vào đời sống và tạo ra các sản phẩm mới (số liệu tổng hợp ở các Bảng 1.5, Bảng 1.6 và Biểu đồ 1.1, 1.2, 1.3 trong luận án).

Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học

Chương 2 trình bày 4 điều kiện thực hiện và 5 biện pháp sư phạm trọng tâm:

  • Bốn điều kiện thực hiện:
    1. Đảm bảo bám sát biểu hiện của NLST và yêu cầu cần đạt về đọc hiểu VBVH của học sinh THCS trong Chương trình GDPT môn Ngữ văn.
    2. Đảm bảo đánh giá hướng tới sự phát triển NLST của người học trong đọc hiểu VBVH.
    3. Đảm bảo nội dung dạy học đọc hiểu phù hợp với đối tượng học sinh và hấp dẫn, có nhiều vấn đề để học sinh được thỏa sức sáng tạo.
    4. Đảm bảo môi trường sáng tạo trong dạy học đọc hiểu VBVH.
  • Năm biện pháp sư phạm:
    1. Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động thảo luận, tranh biện nhằm giúp học sinh đưa ra các cách hiểu khác nhau trong việc nhận ra và phân tích, đánh giá ý tưởng mới của văn bản. Giáo viên thiết kế các câu hỏi có vấn đề, câu hỏi mở về những chi tiết đa nghĩa, hành động nhân vật (ví dụ: tranh biện về nhân vật Nhĩ trong Bến quê là đáng giận hay đáng thương; lý giải chi tiết anh thanh niên trả lại chiếc khăn trong Lặng lẽ Sa Pa).
    2. Biện pháp 2: Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề nhằm khích lệ học sinh sáng tạo, chủ động, tích cực trong việc kiến tạo tri thức mới và bộc lộ quan điểm mới. Giáo viên xây dựng tình huống có vấn đề xuất phát từ mâu thuẫn nội dung hoặc nghệ thuật của văn bản, hướng dẫn học sinh phát hiện, đề xuất giả thuyết và giải quyết vấn đề.
    3. Biện pháp 3: Thiết kế và sử dụng các bài tập gắn với thực tiễn giúp học sinh vận dụng sáng tạo các giá trị của văn bản văn học vào đời sống. Đưa học sinh bước ra khỏi văn bản, liên hệ với tình huống thực tế của bản thân và xã hội (ví dụ: bài tập xử lý tình huống ứng xử khi người thân gặp biến cố liên hệ từ Chiếc lược ngà).
    4. Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động hồi ứng trải nghiệm thông qua các vai chủ thể khác nhau nhằm khai thác ở học sinh các phản hồi, đánh giá độc đáo và sáng tạo. Học sinh nhập vai nhân vật, tác giả, hoặc một đối tượng quan sát để trình bày cảm xúc, suy nghĩ, viết thư hoặc đối thoại giả định.
    5. Biện pháp 5: Đa dạng hóa hoạt động đọc hiểu, tạo cơ hội cho học sinh làm ra các sản phẩm sáng tạo. Hướng dẫn học sinh tạo ra sản phẩm nói (thuyết trình, tranh biện), sản phẩm viết (viết tiếp đoạn kết, chuyển thể truyện thành thơ, viết nhật ký nhân vật) và sản phẩm khác (vẽ tranh minh họa, sân khấu hóa trích đoạn).

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

  • Tổ chức thực nghiệm: Triển khai trên đối tượng học sinh lớp 9 tại các trường THCS thuộc Hà Nội và Hà Tĩnh, chia thành nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) có trình độ tương đương ở bài kiểm tra đầu vào. Tiến hành dạy học các bài đọc hiểu thể loại truyện (Làng, Lặng lẽ Sa Pa, Chiếc lược ngà, Bến quê) theo hệ thống giáo án thực nghiệm được thiết kế theo 5 biện pháp của luận án.
  • Đánh giá định lượng (SPSS và ANOVA):
    • Kiểm định đầu vào: Điểm kiểm tra đầu vào giữa nhóm TN và ĐC không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p > 0.05$), khẳng định tính tương đồng trước thực nghiệm.
    • Kiểm định đầu ra: Điểm trung bình kiểm tra đầu ra của nhóm TN cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐC và cao hơn chính nhóm TN ở đầu vào (Biểu đồ 3.1, Biểu đồ 3.2, Bảng 3.1, Bảng 3.2).
    • Kiểm định ANOVA theo các biểu hiện thành phần: Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) đối với các biểu hiện cụ thể cho thấy nhóm TN vượt trội nhóm ĐC có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$):
      • Biểu hiện 2.2: Phát hiện, lí giải độc đáo về các yếu tố nghệ thuật của VBVH (Bảng 3.3, Bảng 3.4).
      • Biểu hiện 3.3: Vận dụng giá trị của văn bản làm thay đổi nhận thức, tình cảm bản thân (Bảng 3.5, Bảng 3.6).
      • Biểu hiện 4.3: Tạo ra các sản phẩm sáng tạo khác như vẽ tranh, sân khấu hóa (Bảng 3.7, Bảng 3.8).
  • Đánh giá định tính: Qua quan sát và phỏng vấn, học sinh nhóm TN thể hiện sự tự tin, tích cực tham gia thảo luận, biết bảo vệ ý kiến cá nhân bằng lập luận, tạo ra nhiều sản phẩm học tập phong phú và bộc lộ sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, cảm xúc.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa cơ sở khoa học về năng lực sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục môn Ngữ văn.
  • Xác định rõ quan niệm, bản chất của NLST của học sinh THCS trong đọc hiểu VBVH dưới ánh sáng của lý thuyết tiếp nhận văn học và tiếp cận năng lực hành động.
  • Xây dựng bảng cấu trúc gồm 4 thành tố và 11 biểu hiện cụ thể của NLST trong đọc hiểu VBVH, tạo công cụ đo lường và định hướng tổ chức hoạt động dạy học cho cấp THCS.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát, phản ánh thực trạng dạy học đọc hiểu VBVH và mức độ bộc lộ NLST của học sinh THCS tại một số địa bàn (Hà Nội, Hà Tĩnh).
  • Đề xuất hệ thống 5 biện pháp sư phạm cùng 4 điều kiện thực hiện nhằm phát triển NLST cho học sinh trong dạy đọc hiểu VBVH.
  • Thiết kế hệ thống giáo án thực nghiệm minh họa thể loại truyện lớp 9, cung cấp quy trình tổ chức dạy học cụ thể cho giáo viên.
  • Chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất thông qua kết quả thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng công cụ thống kê toán học (SPSS, ANOVA).

3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Chuyển đổi phương thức dạy học đọc hiểu từ truyền thụ áp đặt, bình giảng một chiều sang tổ chức hoạt động tiếp nhận chủ động, tương tác và tranh biện.
  • Tăng cường thiết kế bài tập gắn với thực tiễn và đa dạng hóa hình thức sản phẩm học tập của học sinh.
  • Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng mở, chấp nhận các cách kiến giải đa dạng, hợp lý của học sinh dựa trên hệ giá trị của văn bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, phạm vi thực nghiệm sư phạm của luận án mới chỉ tập trung vào thể loại truyện ở khối lớp 9 tại một số trường THCS thuộc hai địa bàn Hà Nội và Hà Tĩnh, chưa triển khai thực nghiệm trên toàn bộ các thể loại VBVH và toàn cấp học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu và thử nghiệm các biện pháp sư phạm trên các thể loại văn học khác trong chương trình THCS (như thơ, kịch, kí) cũng như mở rộng sang các khối lớp 6, 7, 8 và cấp trung học phổ thông trên các địa bàn địa lý đa dạng hơn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành: Cung cấp khung lý thuyết về năng lực sáng tạo trong tiếp nhận văn học, hệ thống tiêu chí 11 biểu hiện NLST trong đọc hiểu VBVH, cùng phương pháp kết hợp định lượng (SPSS, kiểm định ANOVA) và định tính trong nghiên cứu lý luận dạy học Ngữ văn.
  • Đối với giáo viên Ngữ văn THCS: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp về 5 biện pháp tổ chức dạy học, ngân hàng câu hỏi tranh biện, kỹ thuật tổ chức hoạt động giải quyết vấn đề, đóng vai hồi ứng trải nghiệm và các mẫu thiết kế giáo án đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình GDPT 2018.
  • Đối với cán bộ quản lý và nhà biên soạn chương trình, SGK: Cung cấp các căn cứ thực tiễn và tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trong phân môn đọc hiểu để xây dựng ngữ liệu, câu hỏi bài tập và đề kiểm tra đánh giá định kỳ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh THCS trong đọc hiểu VBVH gồm những thành tố nào?

Luận án xác định cấu trúc NLST của học sinh THCS trong đọc hiểu VBVH gồm 4 thành tố chính: (1) Nhận ra ý tưởng mới; (2) Phân tích, đánh giá ý tưởng mới; (3) Vận dụng vào bối cảnh mới; (4) Thể hiện kết quả tiếp nhận bằng sản phẩm mới. 4 thành tố này được cụ thể hóa thành 11 biểu hiện hành vi có thể quan sát và đánh giá được.

2. Tác giả đề xuất những biện pháp sư phạm cụ thể nào để phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh?

Luận án đề xuất 5 biện pháp sư phạm:

  1. Tổ chức các hoạt động thảo luận, tranh biện nhằm giúp học sinh đưa ra các cách hiểu khác nhau trong việc nhận ra và phân tích, đánh giá ý tưởng mới của văn bản.
  2. Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề nhằm khích lệ học sinh sáng tạo, chủ động, tích cực trong việc kiến tạo tri thức mới và bộc lộ quan điểm mới.
  3. Thiết kế và sử dụng các bài tập gắn với thực tiễn giúp học sinh vận dụng sáng tạo các giá trị của văn bản văn học vào đời sống.
  4. Tổ chức các hoạt động hồi ứng trải nghiệm thông qua các vai chủ thể khác nhau nhằm khai thác ở học sinh các phản hồi, đánh giá độc đáo và sáng tạo.
  5. Đa dạng hóa hoạt động đọc hiểu, tạo cơ hội cho học sinh làm ra các sản phẩm sáng tạo.

3. Dữ liệu thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng những kỹ thuật thống kê nào?

Dữ liệu thực nghiệm định lượng được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS. Tác giả sử dụng thống kê mô tả (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, bảng phân bố tần số điểm) và kiểm định phương sai ANOVA nhằm so sánh sự khác biệt điểm số đầu vào - đầu ra của nhóm thực nghiệm, cũng như so sánh điểm đầu ra giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng trên tổng điểm và các biểu hiện thành phần (biểu hiện 2.2, 3.3, 4.3).

4. Thực nghiệm sư phạm của luận án được triển khai trên đối tượng, thể loại và địa bàn nào?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trên đối tượng học sinh lớp 9 tại một số trường THCS thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Tĩnh, tập trung vào thể loại truyện trong chương trình Ngữ văn lớp 9 qua các tác phẩm: Làng (Kim Lân), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Bến quê (Nguyễn Minh Châu).

5. Những điều kiện cần đảm bảo khi thực hiện các biện pháp phát triển năng lực sáng tạo là gì?

Luận án xác định 4 điều kiện: (1) Đảm bảo bám sát biểu hiện của NLST và yêu cầu cần đạt về đọc hiểu VBVH của học sinh THCS trong Chương trình GDPT môn Ngữ văn; (2) Đảm bảo đánh giá hướng tới sự phát triển NLST của người học trong đọc hiểu VBVH; (3) Đảm bảo nội dung dạy học đọc hiểu phù hợp với đối tượng học sinh, hấp dẫn và có vấn đề; (4) Đảm bảo môi trường học tập dân chủ, cởi mở, khuyến khích sáng tạo.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học. Trên cơ sở lý thuyết năng lực hành động và lý thuyết tiếp nhận văn học, luận án đã xác lập cấu trúc 4 thành tố gồm 11 biểu hiện của NLST trong đọc hiểu VBVH và đề xuất 5 biện pháp sư phạm khả thi cùng 4 điều kiện thực hiện. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên thể loại truyện lớp 9 tại Hà Nội và Hà Tĩnh được kiểm định qua phần mềm SPSS và ANOVA đã khẳng định tính hiệu quả của các biện pháp được đề xuất. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018.