Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. - Chương 2: Vận dụng quan hệ nhân quả để phát triển NLNT tính quy luật của HTDT cho HS lớp 12- THPT. - Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. luan an 12 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU C ơn 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Với mục đích nghiên cứu dạy học vận dụng quan hệ nhân quả để phát triển NLNT tính quy luật của HTDT cho HS lớp 12 -THPT.
Trong chương này, qua phân tích, tổng hợp những vấn đề lý luận và thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành xác định các khái niệm: “nguyên nhân”, “kết quả”, “quan hệ nhân quả”, “năng lực”, “nhận thức”, “năng lực nhận thức‟, “tính quy luật”, “NLNT tính quy luật của HTDT ”, những phân tích về nhận thức GV về nhân quả và mối quan hệ nhân quả trong DTH làm cơ sở cho việc xác định các nhiệm vụ mà GV cần thực hiện để dạy học vận dụng quan hệ nhân quả nhằm phát triển NLNT tính quy luật của HTDT cho HS. Những phân tích về nhận thức của HS về quan hệ nhân quả thể hiện trong “Tính quy luật của HTDT” và khả năng vận dụng quan hệ nhân quả để nhận thức “Tính quy luật của HTDT” ở lớp 12-THPT làm cơ sở để xây dựng phương pháp dạy học phù hợp. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển năng lực, phát triển NLNT, mối quan hệ nhân quả trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời điều tra nhận thức của GV về kiến thức cốt lõi của DTH, về nguyên nhân – kết quả trong DTH ở THPT và cách dạy học “Chương II. Tính quy luật của hiện tượng di truyền”.
Đây là những cơ sở quan trọng để chúng tôi tiến hành xây dựng quy trình tổ chức dạy học vận dụng quan hệ nhân quả để phát triển NLNT tính quy luật của HTDT. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài 1. Về n uyên n ân, ết quả và mố qu n ệ n ân quả 1. Trên thế giới Quan hệ nhân quả là một trong những chủ đề trọng tâm của triết học sơ khai, triết học khoa học cũng như khoa học ngày nay.
Tác giả Đoàn Quang Thọ đã tổng kết về quan hệ nhân quả từ thời triết học Trung Quốc cổ đại cho đến thế kỷ thứ XVIII như sau [57, tr 33-35]: Từ thời triết học Trung Quốc luan an 13 cổ đại, Mạnh Tử coi “Thế giới bên ngoài do trời sinh ra, số phận con người do trời định”, cho đến thời nhà Hán “Nguyên khí là yếu tố đầu tiên của thế giới”, hay đến thời nhà Tống “Nguyên khí là nguồn gốc của thế giới”. Học thuyết Đạo gia coi „„Đạo sáng tạo ra vạn vật, vạn vật nhờ đó mà sinh ra, sự sinh ra vạn vật theo trình tự đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật”. Học thuyêt Âm Dương gia lại coi “Âm dương là hai khí, hai nguyên lý tác động qua lại lẫn nhau sản sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất”. Đến đời Tùy-Đường coi “Tâm là bản nguyên cuối cùng của thế giới”.
Như vậy để giải thích sự tồn tại và phát triển của vạn vật đều đề cập đến quan hệ nhân quả. Đến triết học Hy Lạp cổ đại coi “Bản nguyên đầu tiên của thế giới là những phần tử nhỏ bé, siêu cảm giác không nhìn thấy được của nước, đất, khí, lửa gọi là mần sống, là hạt giống của muôn vật. Những hạt giống ấy có những kết hợp khác nhau tạo thành mọi vật đang tồn tại” [57, tr 189]. Đến triết học Tây Âu thời cận đại thế kỷ XVII-XVIII coi “Thế giới là thực thể vật chất.
Thực thể vật chất là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng, kể cả con người’[57,tr 118]. Đến thế kỷ thứ XIX, trên cơ sở biện chứng duy vật, F.Ăng-ghen đã đưa ra định nghĩa “Sống là phương thức tồn tại của các thể đản mạch, và phương thức tồn tại này chủ yếu là ở chỗ các thành phần hóa học của những vật thể ấy tự nó luôn luôn đổi mới, hay phương thức tồn tại ấy là trao đổi vật chất, từ trao đổi vật chất mà nảy sinh ra tất cả các đặc tính của vật chất sống”[16, tr 74] Như vậy, từ thời Trung Quốc cổ đại đến cổ đại Hy Lạp và đến triết học Tây Âu thời cận đại, đã đi đúng hướng tư duy từ căn nguyên đến kết quả. Cho đến Triết học phương tây hiện đại, giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với những tiến bộ về khoa học đã cụ thể hóa các hiện tượng tự nhiên có được do những nguyên nhân cụ thể giải thích theo cơ sở khoa học [7, tr 163]. Ăngghen đã tổng kết cụ thể về nguyên nhân- kết quả [9, tr 719, t.
Sau này, khoa học phát triển, Sinh học phát triển, mọi hiện tượng trong tự nhiên nói chung hay trong Sinh học nói riêng đều có nguyên nhân, hay nói cách khác, mọi hiện tượng đều có mối quan hệ nhân quả. Theo giáo lý của triết học Phật giáo thì “Nhân – Quả“ là một quy luật tất yếu trong sự hình thành nhân sinh quan và vũ trụ qua mối liên hệ duyên khởi của cuộc luan an 14 sống con người, mà qua đó nhân quả được coi như một luật tắc không thể thiếu được khi hình thành một xã hội nhân bản đạo đức. Phật giáo có viết “Thủa xưa từ đời quá khứ cách đây rất xa chúng ta đã tạo ra nhân quả rồi. Những nhân quả ấy dồn dập như sóng biển, dẫu cho trải qua bao nhiêu kiếp cũng không hề thất lạc.
Đúng kỳ, chúng hiện ra cho chúng ta hoặc thưởng, hoặc phạt tùy theo chúng ta đã làm lành hay dữ, làm phải hay quấy”, Như vậy, “Nhân-Quả“ là một quy luật của tất cả mọi sự vật. Nhân-quả tuy đơn giản nhưng nếu đi sâu vào sự vật để nghiên cứu thì thấy rất phức tạp, mọi sự vật không phải đơn thuần, tách rời mà có sự liên hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau [5]. Năm 1961, tác giả Ernst Mayr [72] đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả trong Sinh học, tác giả nghiên cứu dựa trên mạch câu hỏi: "Tại sao?" và “Làm thế nào?”. Tác giả khẳng đinh “Các định nghĩa như mô tả quan hệ nhân quả khá cụ thể trong một số ngành sinh học, đặc biệt là trong các lĩnh vực hóa học và vật lý hiện tượng”.
Quan hệ nhân quả được tác giả mô tả từ những hiện tượng tự nhiên cho đến giải thích thông tin di truyền được lưu trữ trên ADN. Tác giả nhấn mạnh “Sự hòa hợp của vũ trụ sống, cho đến nay, là một sản phẩm sau khi được lựa chọn tự nhiên. Cuối cùng, quan hệ nhân quả trong sinh học không phải là trong cuộc xung đột thực sự với quan hệ nhân quả của cơ học cổ điển”. Tuy nhiên, nghiên cứu của Mayr áp dụng dựa trên kinh nghiệm nên tác giả Mayr đã dẫn đến niềm tin phổ biến rằng các quá trình truyền thông tin di truyền ít có ý nghĩa với tiến hóa.
Đến năm 2012, nhóm tác giả KevinN.Laland; JohnOdling-Smee; William Hoppitt; TobiasUller [78] đã nghiên cứu quan hệ nhân quả trong Sinh học, và đặc biệt xem lại câu hỏi và giải thích “ Tại sao?” và “Làm thế nào?” mà tác giả Ernst Mayr đã nghiên cứu năm 1961. Nhóm tác giả khẳng định “nguyên nhân của sự tiến hóa hay các đặc điểm của sinh vật là do di truyền và các biến dị của di truyền trong môi trường cụ thể”. Như vậy, từ thời cổ đại cho đến đầu thế kỷ XXI, các nhà triết học, các nhà giáo dục, các nhà khoa học đều đã khẳng định quan hệ nhân quả là một quy luật tất yếu của thực tại khách quan. Ở Việt Nam Đã có nhiều tác giả đề cập đến quan hệ nhân quả là mối quan hệ tất yếu trong nhiều lĩnh vực.
- Tác giả Nguyễn Thái Sơn khẳng định “Nguyên nhân thúc đẩy con người hoạt động là một chuỗi nhân quả xã hội” hay “Khi con người chưa làm chủ được các quy luật thì các quy luật tác động đến con người một cách tự phát và con người sẽ làm nô lệ của tính tất yếu, khi con người đã nhận thức được các quy luật và cả những điều kiện hoạt động của chúng để vận dụng vào hoạt động thự tiễn thì con người sẽ từng bước làm chủ tự nhiên…”[52, tr 84-90]. Tác giả Lê Thị Minh Hằng đã nghiên cứu quan hệ nhân quả ảnh hưởng tới ngôn ngữ và đặc biệt là câu điều kiện như “Nếu…- Thì…”. Tác giả nhấn mạnh vai trò của quan hệ nhân quả “Quan hệ nhân quả giống như không gian và thời gian tạo ra phạm trù cơ bản trong nhận thức của con người. Quan hệ nhân quả không phải là một phạm trù được chúng ta nhận biết từ kinh nghiệm mà là một trong những phạm trù cơ sở giúp chúng ta giải thích kinh nghiệm”[21, tr 29-40], với lập luận này, quan hệ nhân quả không chỉ đúng trên phương diện ngôn ngữ mà còn đúng trong nghiên cứu tự nhiên.
Tác giả Nguyễn Tiến Nghị nghiên cứu nhân quả trên phương diện phật giáo, tác giả coi “Nhân là yếu tố chính, có trước, sinh ra cái khác. Nhân chính là cái khởi nên, tạo ra cái khác” tác giả cũng coi “Một nhân đây được hiểu là sự bao hàm sự hài hòa của các hợp nhân thành một nhân có khả năng sinh ra kết quả và nếu có thiếu sót bất kỳ cái nào trong vài nhân hợp thành một nhân thì sẽ không có kết quả, nhóm các nhân sẽ không thể sinh ra kết quả nếu chúng độc lập với nhau hay thiếu một vài cái trong số chúng. Cho nên qua sự tùy thuộc lẫn nhau, bình đẳng và cùng nhau chúng sản sinh ra kết quả”[44, tr 26-30]. Điều đó không chỉ đúng với phật giáo mà còn đúng với các quy luật tự nhiên, đặc biệt mối quan hệ nhân quả trong tính quy luật của HTDT.
Tác giả Võ Thị Vinh đã nhấn mạnh “Khả năng xác định mối liên hệ nhân quả là thước đo trình độ phát triển tư duy của học sinh”[66, tr 92-98]. Tác giả đưa ra các phương pháp hình thành mối liên hệ nhân quả như giảng bài, đàm thoại, so sánh, bản đồ…, tác giả vẫn nhấn mạnh “Phương pháp nêu vấn đề là phương pháp luan an 16 có nhiều ưu thế nhất trong việc hình thành mối liên hệ nhân quả”, tác giả cũng phân tích “Phương pháp nêu vấn đề có nhiều cơ hội để đưa học sinh vào tình huống có vấn đề để từ đó kích thích tư duy giúp các em đi tìm lời giải cho vấn đề đặt ra”.