phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong 3 chƣơng với nội dung chủ yếu là: Chƣơng 1: Cơ sở l luận và thực tiễn của phát triển năng lực kỹ thuật cho học sinh phổ thông. Chƣơng 2: Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kỹ thuật cho học sinh phổ thông trong dạy học Công nghệ 12. Chƣơng 3: Kiểm nghiệm và đánh giá. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KỸ THUẬT CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 1.
TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC KỸ THUẬT 1. Lịch sử nghiên cứu về năng lực và năng lực kỹ thuật Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, trên thế giới đã có nhiều biến đổi sâu sắc về khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, kinh tế - xã hội. Sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật ngày càng cao dẫn đến sự mở rộng, phong phú về nội dung và phƣơng pháp hoạt động lao động của con ngƣời. Trình độ phát triển ngày càng cao của khoa học, KT, công nghệ nhƣ là một đòi hỏi khách quan về trí tuệ, năng lực của ngƣời lao động.
Hoạt động KT đƣợc thể hiện trong các phạm vi lao động sản xuất, học tập và nghiên cứu, phát minh, sáng chế hay cải tiến KT. Các dạng hoạt động đó đòi hỏi con ngƣời phải nắm vững tri thức và KN khoa học, KT, công nghệ, phƣơng pháp tƣ duy khoa học, TDKT đúng đắn. Sự phân hóa và chuyên môn hóa khoa học, KT, công nghệ ở mức cao đã đặt ra cho khoa học giáo dục và đào tạo nhiệm vụ phải nghiên cứu và tìm ra những giải pháp để nâng cao trình độ và chất lƣợng nguồn nhân lực. Về vấn đề nghiên cứu năng lực - Vấn đề năng lực là vấn đề của loài ngƣời, đƣợc nghiên cứu từ khá sớm, bởi nhu cầu muốn hiểu biết, cải tạo thế giới và hiểu biết về chính bản thân mình.
Năng lực con ngƣời là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều khoa học nhƣ triết học, tâm lý học, xã hội học, sinh lí học, l luận dạy học. Cho đến nay vẫn chƣa có định nghĩa thống nhất về khái niệm năng lực. Thuật ngữ “năng lực” theo tiếng Anh, “competency” có nghĩa là năng lực hay khả năng. - Một số nhà khoa học phƣơng Tây đã có những quan niệm khác nhau về năng lực.
Theo quan điểm di truyền học, trƣờng phái A. Simson cho rằng: năng lực phụ thuộc vào tính chất b m sinh, di truyền của gen. Theo quan điểm xã hội học, E. Durkhiem (1858-1917) cho rằng: năng lực, nhân cách con ngƣời đƣợc quyết định bởi xã hội, nhƣ một môi trƣờng bất biến, tách khỏi điều kiện chính trị.
Trƣờng phái tâm lý học hành vi J. Watson (1870-1958) quan niệm năng lực con ngƣời là sự thích nghi “sinh vật” với điều kiện sống. - Các nhà tâm lý học mác-xít nghiên cứu năng lực theo quan điểm hoạt động, trong sự tƣơng tác của con ngƣời với môi trƣờng xã hội và điều kiện sống. Năng lực có liên quan chặt chẽ với quá trình lao động cá nhân và lao động lịch sử xã hội.Ăngghen cho rằng: “Lao động đã sáng tạo ra con ngƣời”.
Các Mác đã chỉ rõ: “Sự khác nhau về tài năng tự nhiên của các cá nhân không phải là nguyên nhân mà là kết quả của sự phân công lao động”. Năng lực đƣợc hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động – đó là quan điểm mang tính nguyên tắc và là cơ sở để nghiên cứu năng lực. Trong những năm qua, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã và đang tiếp tục nghiên cứu, phát triển các quan niệm tiến bộ về năng lực. Vƣgôtxki cho rằng: “.
Lịch sử phát triển văn hóa của đứa trẻ đƣa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách” [22]. Năng lực ở đây đƣợc quan niệm là một thuộc tính của nhân cách. Chêplôp (1961) [20], [26], [95], quan niệm năng lực là ph m chất của nhân cách. Năng lực có quan hệ chặt chẽ với hoạt động, đƣợc hình thành trong hoạt động, thể hiện ra trong hoạt động, đƣợc đánh giá qua hành động.
Bản chất của năng lực thể hiện trên ba dấu hiệu cơ bản nhất: (1) Năng lực là những sự khác biệt tâm l cá nhân, làm cho ngƣời này khác ngƣời kia; (2) Năng lực không phải thể hiện sự chung chung mà xác định cụ thể qua kết quả của một hoạt động nào đó; (3) Năng lực không liên quan gì đến những kiến thức, KN, kỹ xảo đã đƣợc hình thành ở một ngƣời nào đó, mà đƣợc xem nhƣ 12 là một yếu tố di truyền nhất định. Các luận điểm trên về năng lực sẽ đƣợc nghiên cứu vận dụng, phát triển. Riêng về điểm thứ (3) này thì không đúng, bởi lẽ: nhận thức duy vật biện chứng về năng lực đã xác định năng lực mang tính lịch sử cụ thể và lao động xã hội. Năng lực có liên quan chặt chẽ với quá trình lao động cá nhân và lao động lịch sử xã hội, đồng thời đƣợc hình thành nhờ quá trình lao động.
Những nghiên cứu về năng lực của A. Côvaliôp [26], đã đi sâu phân tích cấu trúc năng lực. Theo đó, cấu trúc năng lực gồm ba nhóm thuộc tính: (1) Thuộc tính chủ đạo; (2) Thuộc tính cơ sở làm chỗ dựa; (3) Thuộc tính hỗ trợ làm nền. Ba thành phần này gắn kết chặt chẽ với nhau, liên kết và tƣơng tác với nhau, có vai trò không bình đẳng với nhau.
Việc xác định cấu trúc ba thành phần nhƣ trên đã có nghĩa to lớn, là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp sau, đó cũng là luận điểm quan trọng đƣợc nghiên cứu này kế thừa, phát triển. Lâytex [84], [85], đã có những nghiên cứu chuyên sâu về năng lực trí tuệ ở lứa tuổi trẻ em, trong hoạt động học tập các môn khoa học, công nghệ, ngoại khóa và lao động KT. Các vấn đề đƣợc đề cập đến nhƣ: đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển năng lực; trẻ em phát triển năng lực sớm; sự khác biệt cá nhân; sự say mê lao động và nhu cầu hoạt động; khả năng dự đoán sự phát triển năng lực. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học đề cập đến năng lực nhƣ: A.
Lêônchiép, Platônốp, Kovaliốp, D. B i Văn Huệ (2000) [25], [26] cho rằng: “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân ph hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt”. Ruđich (1986), [95] định nghĩa: “Năng lực đó là tính chất tâm sinh lí của con ngƣời chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng nhƣ hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định”. Phạm Minh Hạc (2002), [21, tr 515] quan niệm: “Năng lực là các đặc điểm tâm lý ở ngƣời, tạo điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cƣờng độ của việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo”.
Tác giả nhấn mạnh: “Chính năng lực là một yếu tố tổ thành trong một hoạt động cụ thể, chứ không phải chỉ là sự tƣơng ứng hay ph hợp giữa một bên là yêu cầu của một hoạt động và một bên là tổ hợp thuộc tính cá nhân”. Ở đây có sự đồng nhất quan điểm của Phạm Minh Hạc và P. Ruđich, đó cũng là luận điểm đƣợc nghiên cứu này quan tâm, kế thừa, phát triển. Còn một số quan niệm về năng lực đƣợc trình bày trong một số từ điển, nhƣng đều nghiêng về việc giải thích thuật ngữ, chƣa phản ánh hết bản chất.
- Thống nhất các quan niệm về bản chất năng lực dẫn đến kết luận: Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý, sinh lý của cá nhân; được hình thành trong hoạt động, biểu hiện bằng hoạt động, được đánh giá qua hành động; chi phối chất lượng và hiệu quả của hoạt động. Về vấn đề nghiên cứu năng lực kỹ thuật - NLKT là một loại năng lực chuyên biệt thuộc hệ thống các năng lực của con ngƣời. NLKT có quan hệ với năng lực là mối quan hệ giữa cái riêng với cái chung. NLKT là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhƣ triết học, tâm lý học lao động, tâm lý học kỹ sƣ, sinh l học, l luận dạy học.
Kết quả của việc phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa một cách có chọn lọc những quan điểm, luận điểm về NLKT theo phƣơng pháp phân tích các yếu tố thành phần của NLKT, đồng thời bổ sung phƣơng pháp tiếp cận hệ thống để nghiên cứu NLKT là cơ sở khoa học và phƣơng pháp tiếp cận của đề tài về NLKT. 14 - Thuật ngữ NLKT đƣợc xuất hiện và nghiên cứu ngay từ những năm đầu tiên của thế kỉ XX, c ng với sự phát triển của khoa học, KT và tâm lý học lao động [51], [59]. Thực tế cho thấy: khoa học, KT, công nghệ phát triển theo tiến trình lịch sử, nội dung của NLKT cũng biến đổi theo, và ngày càng đƣợc mở rộng, phát triển. ồng thời, những tri thức khoa học, KT, công nghệ mới cũng dần dần đƣợc đƣa vào giảng dạy trong nhà trƣờng, dẫn đến kinh nghiệm, kiến thức, KN, tƣ duy, năng lực của ngƣời học cũng đƣợc biến đổi theo.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về NLKT là vấn đề đang tiếp diễn. Trong các công trình nghiên cứu của tâm lý học về NLKT thì cấu trúc của NLKT đƣợc tập trung nghiên cứu khá nhiều, trở thành vấn đề trung tâm. - Theo các tài liệu tâm lý học [9], [51], [59], với phƣơng pháp phân tích yếu tố, cho thấy cấu trúc của NLKT bao gồm các yếu tố sau: sự khéo tay, kỹ năng thủ công (theo X.M Va-xi-lây-xki); tư duy không gian và tư duy thao tác (theo I. Ia-ki-man-xkai-a); biểu tượng không gian, tưởng tượng, hứng thú kỹ thuật (PM.
Ia-cốp-xơn); TDKT, tư duy không gian, tri giác không gian (B.Ku-đri-a-sép [81], N. Lin-cô-va, X. Iakimanxkaia [59]); trí thông minh, khả năng đánh giá, năng lực tính toán, năng lực ghi nhớ, vận dụng ngôn ngữ (Si-phen-bớc, Thớc-tơn [59]); cảm giác cơ, thời gian phản ứng, nhạy cảm xúc giác, chú ý, óc quan sát. - Cũng bằng phƣơng pháp phân tích yếu tố để hiểu cấu trúc của NLKT, năm 1928, J.
Cox đã tách ra một số yếu tố trong cấu trúc của NLKT là yếu tố (m) - đó là khả năng hiểu và sử dụng các nguyên tắc và mối quan hệ cơ khí.Koussy đã chứng minh sự có mặt của yếu tố không gian (k) và xác định đó là yếu tố quan trọng nhất trong cấu trúc của NLKT.Alexander đã tách ra yếu tố (f), gọi là trí thông minh thực hành, ông đã đối lập (f) với yếu tố ngôn ngữ trừu tƣợng.