Mở đầu Phần 2. Nội dung Chƣơng 1.Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS trong BDHSG ở trường THPT không chuyên.Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần sắt và hợp chất của sắt trong bồi dưỡng HSG nhằm phát triển năng lực GQVĐ và ST cho học sinh ở trường THPT không chuyên. Thực nghiệm sư phạm Phần 3. Kết luận 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Định hƣớng đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay ở Việt Nam Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì qua việc học.
Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, chú trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XI: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học";[6] Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực người học 1.Cơ sở lý luận về năng lực và năng lực GQVĐ & ST 1. Khái niệm năng lực Trong tiếng Việt cũng như tiếng Anh, từ năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt.
Hơn nữa, “năng lực” lại rất gần nghĩa với một số từ khác như tiềm năng, khả năng, kĩ năng,. do vậy nếu chỉ nói chung chung thì sẽ rất phức tạp và khó xác định. Trong Từ điển Tiếng Việt, khái niệm năng lực được xác định là: i) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 6 z ii) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [26]. Khái niệm năng lực được dùng trong chương trình giáo dục trung học của Québec: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.
Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc nguồn thông tin khác”. Tất nhiên, hành động (do), thực hiện (performance) ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng chứ không phải làm một cách “máy móc”,“mù quáng”. Năng lực chung và năng lực đặc thù môn Hóa học của HS THPT Việt Nam 1. Năng lực chung cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương, phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại.
Phân tích Chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của một số nước có hai loại chính, đó là: Năng lực chung (general competence) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence) Bernd Meier, Nguyễn Cường [3] đưa ra gồm: Năng lực liên môn (khả năng học các nội dung môn học, có kiến thức liên môn học); năng lực linh hoạt sáng tạo (khả năng học cách thức làm việc, có phương pháp học, làm việc hiệu quả); năng lực sử dụng máy móc một cách thông minh; năng lực xã hội (khả năng giao tiếp, ứng xử); năng lực cá nhân (khả năng tự học, tự đánh giá). Trong dự thảo Đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trình Chính phủ (11/2015) [9] đã đề xuất: Đối với HS THPT ở Việt Nam các năng lực chung cốt lõi gồm 8 năng lực đó là các năng lực : NL GQVĐ và ST, NL tự ho ̣c, NL thẩ m mi ̃ , NL thể chấ t , NL giao tiế p , NL hơ ̣p tác , NL tính toán , NL sử du ̣ng công nghê ̣ thông tin và truyề n thông.Năng lực đặc thù môn Hóa học:[7] Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học. Năng lực tính toán hóa học. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học 7 z Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống.
Năng lực thực hành hóa học 1. Những phẩm chất và năng lực của học sinh giỏi hóa học * Khái niệm về học sinh giỏi Luật bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa HSG: “ HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao/ và có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt /và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lí thuyết / khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt / và sự phục vụ đặc biệt để đạt trình độ tương ứng với năng lực của người đó” Theo [24 ]“ Học sinh giỏi hóa học phải là người nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, nắm vững các kiến thức cơ bản đã được học, vận dụng tối ưu các kiến thức cơ bản đã được học để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới (do chưa được học hoặc chưa thấy bao giờ)”. * Một số phẩm chất năng lực của học sinh giỏi hoá học[24] - Có kiến thức cơ bản vững vàng, sâu sắc, có hệ thống. Từ những kiến thức có được, một HSG hóa học cần biết vận dụng linh hoạt các kiến thức cơ bản vào giải quyết các vấn đề đặt ra, biết áp dụng trong các tình huống mới.
- Có năng lực tư duy sáng tạo (biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có khả năng sử dụng các phương pháp phán đoán mới: qui nạp, diễn dịch, nội suy. ) - Có khả năng quan sát, nhận thức, nhận xét các hiện tượng tự nhiên, có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo những kiến thức cơ bản và những nhận thức đó vào những tình huống khác nhau. Có khả năng nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ. - Biết tìm con đường mới hay nhất, ngắn nhất, độc đáo để đi đến đích và có khả năng diễn đạt những ý tưởng của mình một cách ngắn gọn, chính xác, khoa học.
- Có năng lực tự học, tự nghiên cứu khoa học: Biết nêu ra những dự đoán, lí luận và giải thích cho những hiện tượng xảy ra trong thực tế, biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại lí thuyết. - Có năng lực thực hành tốt, có kĩ năng thực hành tốt, biết quan sát, nhận xét hiện tượng, phân tích kết quả và rút ra kiến thức lí thuyết từ thực nghiệm. - Có niềm đam mê với môn học, có lòng hăng say học tập cao độ và một ý chí vươn lên mạnh mẽ. - Có kiến thức văn hóa nền tảng vững chắc, đó là các kiến thức các bộ môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
8 z Trong đó “Có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết các vấn đề, tình huống. Đây là phẩm chất cao nhất cần có ở một HSG Hóa Học ” 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1.1 Khái niệm Trước khi đi sâu nghiên cứu NL GQVĐ và ST chúng ta cùng nhau làm rõ mô ̣t số khái niệm sau: * Vấ n đề. Vấn đề là một nhiệm vụ đặt ra cho chủ thể, trong đó chứa đựng những thách thức mà họ khó có thể vượt qua theo cách trực tiếp và rõ ràng.
Mỗi vấn đề thường tồn tại trong bối cảnh, tình huống cụ thể. Bối cảnh vấn đề là một phần của cuộc sống và được phân loại theo khoảng cách với chủ thể: gần nhất là bối cảnh cuộc sống cá nhân; tiếp theo là bối cảnh môi trường học tập/làm việc và cuộc sống cộng đồng; xa nhất là bối cảnh khoa học. * Giải quyết vấn đề, năng lực GQVĐ Đầu thế kỷ XXI, nhìn chung cộng đồng giáo dục quốc tế chấp nhận định nghĩa: “GQVĐ là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình huống không có quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn”[2]. Người GQVĐ có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức biết cách làm thế nào để đạt được nó.
Sự am hiểu tình huống vấn đề, lý giải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch, suy luận tạo thành quá trình GQVĐ. Có thể thấy, GQVĐ là quá trình tư duy phức tạp, bao gồm sự hiểu biết, đưa ra luận điểm, suy luận, đánh giá, giao tiếp. để đưa ra một hoặc nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, thách thức của vấn đề. Trong quá trình GQVĐ, chủ thể thường phải trải qua hai giai đoạn cơ bản: - Khám phá vấn đề và tổ chức nguồn lực của chính mình (tìm hiểu vấn đề; tìm hướng đi, thủ pháp, tiến trình.
để dần tiến tới một giải pháp cho vấn đề). - Thực hiện giải pháp (giải quyết các vấn đề nhỏ hơn ở từng lĩnh vực/nội dung cụ thể; chuyển đổi ý nghĩa của kết quả thu được về bối cảnh thực tiễn); và đánh giá giải pháp vừa thực hiện, hoặc tìm kiếm giải pháp khác.