CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong giáo dục 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong giáo dục - Khái niệm năng lực: Khái niệm “Năng lực” được nhiều người hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, một số quan điểm cụ thể như sau: Theo Gardner, Howard (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”, [31, tr.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn và Trần Trọng Thủy (1998) quan niệm: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy.
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2007): “Năng lực của học sinh được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học. Năng lực nói chung luôn được xem xét trong mối quan hệ với dạng hoạt động hoặc quan hệ nhất định nào đó” [18, tr20]. Trong đề tài này, chúng tôi đi theo khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến 11 thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” - Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) và năng lực sáng tạo (NLST) là 2 loại năng lực quan trọng cho học sinh mà nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đang hướng tới và có mối tương quan chặt chẽ tổng thể với nhau. Hiện nay ở Việt Nam, việc học quá chú trọng đến rèn luyện kĩ năng, luyện tập theo cái có sẵn, cho nên học sinh không được rèn luyện năng lực này từ sớm.
Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực tự học, tự khám phá và tư duy của trẻ. Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở khía cạnh về phương pháp dạy học mà phải được đặt ra như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. Có nhiều quan điểm và định nghĩa về năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong giáo dục: Theo định nghĩa trong đánh giá PISA, 2012: “Năng lực GQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống có vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó - thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng” [33, tr2].
Theo Nguyễn Cảnh Toàn (Xã hội học tập - học tập suốt đời) (2012): “Hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân. Để GQVĐ, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế” [19, tr3]. Đối với năng lực sáng tạo, theo Trần Việt Dũng (2013), “Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các 12 phẩm chất độc đáo của cá nhân đó. Chu Cẩm Thơ (2016) cho rằng: “Năng lực sáng tạo là khả năng giải quyết vấn đề bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau; phân tích, đánh giá vấn đề ở nhiều phương diện, góc nhìn khác nhau, nó là một phần gắn liền và tích hợp với năng lực giải quyết vấn đề.
Thông qua đó giúp người học nắm vững không chỉ những kết quả nhận thức khoa học, hệ thống tri thức mà cả con đường, quá trình thu nhận các kết quả đó, hình thành tính tích cực nhận thức và phát triển khả năng sáng tạo của người học. Như vậy, thông qua các quan điểm khác nhau ở trên, chúng tôi cho rằng: Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (GQVĐ-ST) trong giáo dục là khả năng huy động, tổng hợp kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân như hứng thú, ý chí nhằm giải quyết một nhiệm vụ học tập, trong đó có biểu hiện của sự sáng tạo. Sự sáng tạo trong quá trình GQVĐ được biểu hiện trong một bước nào đó, có thể là một cách hiểu mới về vấn đề, hoặc một hướng giải quyết mới cho vấn đề, hoặc một sự cải tiến mới trong cách thực hiện GQVĐ, hoặc một cách nhìn nhận đánh giá mới hoặc cách cải tiến một thí nghiệm. Cái mới, cái sáng tạo là một sự cải tiến so với cách giải quyết thông thường.
Cái mới, sáng tạo ở đây là mới so với NL, trình độ của học sinh, mới so với nhận thức hiện tại của HS. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS được bộc lộ, hình thành và phát triển thông qua hoạt động GQVĐ trong học tập hoặc trong cuộc sống. Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Lê Văn Dần (2018) [5,tr4] đã nghiên cứu về cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và cho rằng năng lực GQVĐ-ST là sự tổng hòa của các năng lực sau: - Năng lực nhận thức (Nhận ra ý tưởng mới): Giúp người học nắm 13 vững các khái niệm, qui luật, các mối quan hệ và các kỹ năng bộ môn. - Năng lực tìm hiểu, khám phá vấn đề (Phát hiện và làm rõ vấn đề): Giúp người học nhận biết vấn đề, phân tích được tình huống cụ thể, phát hiện được tình huống có vấn đề, chia sẻ sự am hiểu về vấn đề với người khác.
- Năng lực hình thành và triển khai ý tưởng mới: Giúp người học có được các phương pháp nhận thức chung và năng lực nhận thức chuyên biệt, biết phân tích, thu thập xử lí, đánh giá, trình bày thông tin. - Năng lực đề xuất, lựa chọn giải pháp: Giúp người học biết phân tích đánh giá, lựa chọn và thực hiện các phương pháp học tập, giải pháp GQVĐ- ST và từ đó học được cách ứng xử, quan hệ xã hội và tích lũy kinh nghiệm GQVĐ-ST cho mình. - Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động: Giúp người học có khả năng phân tích, tổng hợp kiến thức trong việc phát hiện vấn đề và vận dụng nó để giải quyết vấn đề và sáng tạo trong học tập có liên quan đến thực tiễn cuộc sống. - Năng lực tư duy độc lập: Giúp người học có khả năng tự học, tự trải nghiệm, tự đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch GQVĐ-ST, vận dụng linh hoạt vào các tình huống khác nhau.
Lựa chọn, sắp xếp, tìm hiểu thông tin với kiến thức đã học. Xác định thông tin, biết tìm hiểu các thông tin có liên quan. Từ đó, xác định các cách thức, quy trình và chiến lược giải quyết, thống nhất các hành động. Như vậy, năng lực GQVĐ-ST có cấu trúc chung là sự tổng hòa của các năng lực trên, đồng thời nó còn là sự bổ trợ của một số kỹ năng thuộc các năng lực chung và năng lực chuyên biệt khác như….
Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018) trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [3], cấu trúc năng lực GQVĐ-ST dự kiến phát triển ở học sinh gồm 6 năng lực thành phần, mỗi mỗi năng lực thành phần bao gồm một số hành vi cá nhân biểu hiệu khi làm việc độc lập hoặc khi làm việc nhóm trong 14 quá trình GQVĐ-ST. Các năng lực thành phần và các biểu hiện của chúng được thể hiện chi tiết ở bảng 1. Bảng mô tả các biểu hiện của NL giải quyết vấn đề và sáng tạo Năng lực thành STT Biểu hiện phần 1 Nhận ra ý tưởng - Biết xác định và làm rõ thông tin, ý mới tưởng mới đối với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn. 2 Phát hiện và làm rõ - Biết thu thập thông tin từ tình huống, vấn đề nhận ra những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi.
3 Hình thành và triển - Dựa trên hiểu biết đã có, biết hình thành khai ý tưởng mới ý tưởng mới đối với bản thân và dự đoán được kết quả khi thực hiện. 4 Đề xuất, lựa chọn - Nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giải pháp giản theo hướng dẫn. 5 Thiết kế và tổ chức - Xác định được nội dung chính và cách hoạt động thức hoạt động để đạt mục tiêu đặt ra theo hướng dẫn. - Nhận xét được ý nghĩa của các hoạt động.
6 Tư duy độc lập - Nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng xung quanh; không e ngại nêu ý kiến cá nhân trước các thông tin khác nhau về sự vật, hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót Như vậy, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo được cấu tạo bởi 6 thành phần năng lực cơ bản gồm: Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thiết kế và tổ chức hoạt động; Tư duy độc lập. Mỗi năng lực thành phần có các biểu hiện cụ thể, trong đó chủ đạo là: Phát hiện tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống và nêu ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; suy nghĩ 15 không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau. Một số vấn đề về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Khái niệm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Trên các tài liệu tham khảo có được chúng tôi chưa tìm thấy một định nghĩa hay khái niệm về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.