Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số vấn đề về năng lực, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Khái niệm năng lực Hiện nay trong các công trình khoa học cho thấy có nhiều tác giả đưa ra quan niệm khác nhau về năng lực: - Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [20,Tr660].
- Năng lực là khái niệm chỉ những thuộc tính có nguồn gốc sinh học, tâm lí và xã hội có thật ở cá nhân cho phép cá nhân đó thực hiện thành công hoạt động nhất định theo yêu cầu hay tiêu chí nhất định và thu được kết quả thấy được trên thực tế. Năng lực biểu hiện ở quá trình hoạt động (hiệu suất, phương thức, tốc độ, phong cách làm việc) và kết quả hoạt động (sản lượng, năng suất, chất lượng sản phẩm). Năng lực không phải là khả năng (có thể làm được và có thể không làm được), không phải tiềm năng mà là cái tồn tại thật sự ở mỗi cá nhân [12]. - Năng lực thường được chia thành hai nhóm gồm nhóm năng lực chung và nhóm năng lực đặc thù: Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc.
Năng lực đặc thù được hình thành, phát triển thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội [3, Tr7]. Năng lực chung và năng lực đặc thù có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực 7 đặc thù, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực đặc thù. Ngược lại sự phát triển của năng lực đặc thù trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung. Trong thực tế mọi hoạt động có hiệu quả cao và kết quả tốt thì đòi hỏi mỗi người phải có năng chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực đặc thù tương ứng với lĩnh vực công việc của mình.
Những năng lực này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục bồi dưỡng và phát triển ở mỗi người. Từ các quan niệm trên chúng ta có thể hiểu: Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân cho phép thực hiện một hoặc một số công việc nhất định, là khả năng vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ để hành động một cách phù hợp và có kết quả trong các tình huống, là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của cá nhân khi giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Khái niệm về vấn đề và giải quyết vấn đề, sáng tạo - Theo [21, Tr140] thì vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ để giải quyết mà còn nhiều khó khăn, cản trở cần vượt qua.
- Giải quyết vấn đề (GQVĐ) là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình huống không có quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn. Người GQVĐ có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức biết cách làm thế nào để đạt được nó. Sự am hiểu tình huống vấn đề và lý giải dần việc đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch và suy luận tạo thành quá trình GQVĐ [21, Tr140]. Có thể thấy, GQVĐ là quá trình tư duy phức tạp, bao gồm sự hiểu biết, đưa ra luận điểm, suy luận, đánh giá, giao tiếp để đưa ra một hoặc nhiều giải 8 pháp khắc phục khó khăn, thách thức của vấn đề.
Trong quá trình GQVĐ, chủ thể thường phải trải qua hai giai đoạn cơ bản: đầu tiên là khám phá vấn đề và tổ chức nguồn lực của chính mình (tìm hiểu vấn đề, tìm hướng đi, thủ pháp, tiến trình. để dần tiến tới một giải pháp cho vấn đề), tiếp theo là thực hiện giải pháp (giải quyết các vấn đề nhỏ hơn ở từng lĩnh vực/nội dung cụ thể) và đánh giá giải pháp vừa thực hiện hoặc tìm kiếm giải pháp khác. - Sáng tạo là tạo ra, đề ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với hoàn cảnh. Nói cách khác là dám thách thức những ý kiến và phương cách đã được mọi người chấp nhận để tìm ra những giải pháp hoặc khái niệm mới.
Cũng có thể hiểu một cách đơn giản sáng tạo chỉ là tìm ra một cách mới để làm việc hoặc làm công việc đó trôi chảy hơn [17].1: Sự sáng tạo của HS thông qua việc giải bài toán Nhóm 1 có 6 học sinh, nhóm 2 có số học sinh bằng số học sinh của nhóm 1 và nhiều hơn 3 học sinh. Tính tổng số học sinh của hai nhóm? - HS tự đọc yêu cầu và tóm tắt bài toán: Tóm tắt 6 HS Nhóm 1: 3 HS ? HS Nhóm 2: 6 HS - Nếu giải theo sự hướng dẫn của GV thì các em sẽ tìm số HS của nhóm 2, rồi sau đó tìm tổng số HS của hai nhóm. Bài giải Số học sinh của nhóm 2 là: 6 + 3 = 9 (học sinh) Tổng số học sinh của hai nhóm là: 9 6 + 9 = 15 ( học sinh) Đáp số: 15 học sinh - Nhưng ở cách nhìn mới thì các em đã giải bài toán: Bài giải Tổng số học sinh của hai nhóm là: 6 x 2 + 3 = 15 (học sinh) Đáp số: 15 học sinh 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Theo OECD (2012) định nghĩa, “Năng lực GQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết t́nh huống có vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng.
Nó bao hàm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huống tương tự để đạt được tiềm năng của mình như một công dân tích cực và xây dựng”[24]. Theo tác giả Phan Khắc Nghệ (2016), năng lực GQVĐ là khả năng cá nhân vận dụng những hiểu biết và xúc cảm để phát hiện vấn đề và tìm ra giải pháp, tiến hành GQVĐ một cách hiệu quả, tự đánh giá, điều chỉnh quá trình GQVĐ [18]. Hiện nay, khái niệm năng lực GQVĐ&ST có nhiều định nghĩa khác nhau, phản ánh các khía cạnh khác nhau của vấn đề này. Tuy nhiên, theo khái niệm năng lực được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông- Chương trình tổng thể năm 2018, theo chúng tôi thì năng lực GQVĐ&ST có thể hiểu như sau: “Năng lực GQVĐ&ST của HS là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, cảm xúc để phân tích, đề xuất các biện pháp, lựa chọn giải pháp và thực hiện giải quyết những tình huống, những vấn đề học tập và thực tiễn mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường, đồng thời đánh giá giải pháp GQVĐ để điều chỉnh và vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh, nhiệm vụ mới” [3].
10 Theo Chương trình giáo dục phổ thông- Chương trình tổng thể năm 2018 chúng tôi xác định cấu trúc năng lực GQVĐ&ST của HS bao gồm sáu thành tố: nhận ra ý tưởng mới; phát hiện và làm rõ vấn đề; hình thành và triển khai ý tưởng mới; đề xuất, lựa chọn giải pháp; thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ; tư duy độc lập. Mỗi thành tố bao gồm một số hành vi của cá nhân khi làm việc nhóm hoặc làm việc độc lập trong quá trình GQVĐ [3]. Biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trong học tập môn Toán Theo [3] thì biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS gồm: - Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới đối với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn. - Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi.
- Dựa trên hiểu biết đã có, biết hình thành ý tưởng mới đối với bản thân và dự đoán được kết quả khi thực hiện. - Nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn. - Biết tiến hành giải quyết vấn đề theo hướng dẫn. - Nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng; không e ngại nêu ý kiến cá nhân trước các thông tin khác nhau về sự vật, hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót.
- Có cách làm khác so với cách đã học, đề ra được những ý tưởng mới phù hợp với hoàn cảnh. HS có năng lực GQVĐ&ST thể hiện ra các hành vi như: có ý thức, trách nhiệm với cá nhân, gia đình và xã hội; ý thức nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc; có khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào việc 11 phát hiện và giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn để đáp ứng yêu cầu trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế. Một số vấn đề chung về DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ&ST 1) Dạy học theo hướng phát triển năng lực HS là chú trọng tổ chức cho HS hoạt động học. Trong DH định hướng phát triển năng lực HS, HS là chủ thể nhận thức, GV có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của HS theo một tiến trình sư phạm hợp lý sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức [17].
2) Bản chất của DH theo định hướng phát triển năng lực là tạo hứng thú nhận thức thông qua việc tổ chức cho HS bộc lộ những hiểu biết ban đầu về cái mới sẽ được học trong bài. - Tổ chức cho HS tìm hiểu, nghiên cứu về cái mới/kiến thức mới thông qua việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực để học nghiên cứu tài liệu khoa học, nghiên cứu thực nghiệm, tiến hành thí nghiệm. - Yêu cầu HS vận dụng/ứng dụng cái mới học được vào giải quyết các tình huống, vấn đề trong thực tiễn. 3) Đặc điểm của DH theo định hướng phát triển năng lực là: - Dạy học là tổ chức các hoạt động học tập của HS.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học. - Dạy học tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.