Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINH LỚP 10 1. Dạy đọc hiểu văn bản 1. Đọc hiểu văn bản Đọc hiểu văn bản đã trở thành một vấn đề quan trọng của mọi nền giáo dục trong khoảng 50 năm gần đây và đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Đọc hiểu văn bản là thuật ngữ quen thuộc, được các nhà giáo dục sử dụng thường xuyên hơn trong quá trình dạy học.
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương” (NXB Giáo dục) cho rằng: Đọc hiểu là quá trình con người huy động vốn hiểu biết và kĩ năng để chiếm lĩnh văn hóa. “Trước hết đọc là một hoạt động của con người dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe. Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống.
Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì? Như thế nào? Làm sao? Tại sao?”. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng đã đưa ra quan niệm: “ĐH là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động học; ĐH đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người học”. “Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa VB” [30; 76]. Theo tác giả Phạm Thị Thu Hương (2021) đọc hiểu văn bản “chính là một hoạt động tâm lí của con người tiếp nhận hệ thống các tổ chức kí hiệu biểu đạt nghĩa nhằm hiện thực hóa động cơ, nhu cầu chiếm lĩnh vốn tri thức của nhân loại, phát triển, hoàn thiện bản thân và tham gia vào đời sống xã hội” [34; 28-29].
11 Từ điểm nhìn phương pháp, tác giả Trần Đình Sử lại khẳng định: “ĐHVB như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” [46;74]. Như vậy, đọc hiểu văn bản là quá trình sử dụng những hành động, thao tác nhất định để tiến hành hoạt động đọc, phân tích, tiếp nhận và mã hóa các tầng ý nghĩa của văn bản bằng khả năng nhận thức văn bản của người đọc. Dạy học đọc hiểu văn bản Tác giả Phạm Thị Thu Hiền trong bài “Phương pháp đọc hiểu văn bản” trên báo Giáo dục và Thời đại quan niệm: GV là người dẫn dắt, chỉ bảo, giúp đỡ, định hướng nhằm cung cấp những kiến thức, kĩ năng để đọc hiểu văn bản bằng những thao tác cụ thể [20;30]. Tác giả Đỗ Ngọc Thống(Tổng chủ biên) trong công trình nghiên cứu “Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông (NXB Đại học Sư phạm, 2018) quan niệm: “Khác với giảng văn - đường lối dạy học một chiều, coi trọng việc truyền thụ hiểu biết về văn học của GV cho HS, dạy học ĐH lấy VB và hoạt động ĐHVB của HS làm trung tâm.
Nếu trong mô hình giảng văn, GV cảm thụ văn rồi giảng lại cho HS nghe về tác phẩm, tức là cho HS tiếp xúc với “thế bản” (VB đã được tiếp nhận của GV) thì trong dạy học đọc hiểu, HS phải làm việc trực tiếp với VB của nhà văn dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của GV” [54; 47]. Trong dạy học đọc hiểu văn bản, hoạt động đóng vai trò then chốt, chủ đạo là để HS đọc, tiếp xúc và cảm thụ VB. Theo Wolfgang Iser (1978), “các VBVH chỉ là sự khởi đầu của nghĩa hơn là sự định hình về nghĩa trong chính bản thân nó. Thiếu sự có mặt của người đọc, VB chỉ đơn thuần là một VB in, nó không trở thành một bài thơ cho đến khi hành động đọc biến nó thành một thi phẩm” [63; 47].
Cũng trong công trình nghiên cứu này, tác giả Đỗ Ngọc Thống và các cộng sự của ông cũng chỉ ra rằng: “Dạy học đọc hiểu văn bản cần hướng đến những nét chung và riêng biệt về loại và thể loại VB nghệ thuật. Mặt khác, chú trọng yếu tố thể loại trong dạy học đọc hiểu cũng chính là tiền đề để dạy HS cách đọc, hình thành kĩ năng đọc cho từng thể loại. Thông qua những văn bản đọc hiểu, GV không chỉ giúp 12 học sinh khám phá cái hay, cái đẹp của từng VB mà còn phải giúp các em hình thành và phát triển cách thức đọc văn, có thể đọc được những VB tương tự” [51; 48]. Tác giả Trần Đình Sử cũng tiếp nối quan niệm về “dạy cách đọc cho học sinh chứ không phải truyền thụ kết quả đọc của ai đó, bắt HS đọc thuộc”.
Tác giả cũng chỉ ra: “Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho HS năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mĩ. Do đó hiểu bản chất của môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của học sinh” (“Đọc hiểu VB- Khâu đột phá trong dạy học văn hiện nay” [49;74]. Như vậy, điểm tương đồng của các quan niệm về dạy học đọc hiểu văn bản chính là một quá trình, ở đó người dạy tiến hành các hoạt động thích hợp với đối tượng văn bản đọc hiểu, với phương thức đọc hiểu của nguời học, trong bối cảnh của trường học để hình thành những bạn đọc, độc giả sáng tạo. Từ đó, chiếm lĩnh kiến thức của nhân loại, có khả năng vận dụng vào cuộc sống và học tập; phát huy năng lực chuyên biệt và năng lực chung, giúp người đọc nâng cao vốn hiểu biết về bản thân và thế giới xung quanh, tâm hồn trở nên phong phú hơn.
Độc giả là người tự khám phá và đối thoại với văn bản văn học trong quá trình đọc hiểu. Điều đó có nghĩa là hướng dẫn học sinh chuyển hóa “cái” thành “cách”, từ tri thức của một VBVH cụ thể trở thành tri thức công cụ nhằm hình thành phương pháp đọc VB, kỹ năng đọc văn bản cho người học. Năng lực đọc hiểu a. Khái niệm năng lực, năng lực đọc hiểu * Khái niệm năng lực: Thuật ngữ năng lực được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi ở Việt Nam và thế giới.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) năng lực là “khả năng đáp ứng thành công những yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh cụ thể thông qua việc huy động những tiền đề về mặt tâm lí xã hội (bao gồm cả khía cạnh nhận thức và phi nhận thức)” Theo Từ điển tiếng Việt (2000) của NXB Đà Nẵng do tác giả Hoàng Phê (chủ biên) thì năng lực là: 13 a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [58; 660-661]. Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) giải thích: “năng lực có thể hiểu theo hai nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó, (2) Là một phẩm chất tâm sinh lý tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” [58; 10]. Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 3) lại khẳng định “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó” [59; 5]. Trong công trình “Năng lực và đánh giá theo năng lực” (Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 6 (71)/2015), tác giả Hoàng Hòa Bình đã đưa ra cách hiểu về năng lực toàn diện hơn từ việc đánh giá và xem xét các quan niệm nêu trước: năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Hai đặc trưng cơ bản của năng lực là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn. Nhìn từ phương diện hành vi, ta thấy rằng năng lực là cụm từ chỉ những khả năng đặc biệt của mỗi cá nhân, có sự bổ sung, bổ trợ của những tri thức và kĩ năng cụ thể. Theo các tác giả của Từ điển Giáo dục (2001): “Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ. Năng lực chỉ có hiệu quả khi nó được chứng minh, trong trường hợp còn lại nó chỉ là giả định hoặc không có thực.
Nó phát triển bởi kinh nghiệm hoặc bởi việc học tập phù hợp với tính riêng biệt của cá nhân. Năng lực được coi như khả năng của con người khi đối mặt với những vấn đề mới và những tình huống mới, gợi tìm lại được tin tức và những kĩ thuật đã được sử dụng trong những thực nghiệm trước đây” [60; 18]. “Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể” (2018) của do Bộ GD&ĐT ban hành, khẳng định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được tạo nên, được hoàn thiện và 14 phát triển nhờ các yếu tố có sẵn và quá trình học tập, phấn đấu giúp con người huy động tập hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhau như đam mê, niềm tin, nghị lực… hoàn thành một loạt hoạt động cụ thể, đạt hiệu quả trong những điều kiện nhất định” [7; 36]. Mặc dù các nhà nghiên cứu có những cách định nghĩa, lí giải khác nhau song chúng ta nhận thấy điểm chung khi nói đến năng lực là khả năng thực thi một kế hoạch, hoạt động đạt đến mức độ biết làm và tạo ra kết quả như mong đợi chứ không đơn thuần là việc nắm được vấn đề và biết làm được những điều thông thường.
Khác hẳn với việc tiến hành các công việc một cách rập khuôn, thiếu sáng tạo, không đạt kết quả.