Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trịnh Kim Liên tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2013), thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Vân Hoa và TS. Vũ Quốc Bình.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế, việc khai thác lợi thế của các làng nghề, đặc biệt là làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu tại Thủ đô Hà Nội, giữ vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn bản sắc văn hóa và giảm áp lực di dân tự do ra đô thị. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), mục tiêu đặt ra cho cả nước đến năm 2015 là nâng thu nhập phi nông nghiệp tăng 2-4 lần so với sản xuất thuần nông, kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ (TCMN) tăng 15-17%/năm, đạt 1,5 tỷ USD; đến năm 2020 kim ngạch đạt 2,0-2,5 tỷ USD, cơ bản giải quyết ô nhiễm môi trường và xóa hộ nghèo tại các làng nghề.
Theo số liệu của Sở Công Thương Hà Nội (2011), toàn thành phố có 1.350 làng có nghề (chiếm 58,8% tổng số làng), trong đó 274 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề được công nhận (chiếm 20,30% tổng số làng có nghề). Báo cáo của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) ghi nhận Hà Nội tập trung 47 nghề trong tổng số 52 nghề truyền thống của cả nước. Năm 2010, giá trị sản xuất (GTSX) của 1.350 làng có nghề đạt 8.604,55 tỷ đồng; năm 2011 có gần 100 làng nghề đạt doanh thu 10-20 tỷ đồng/năm, 70 làng đạt 20-50 tỷ đồng/năm; một số làng đạt doanh số cao như gốm sứ Bát Tràng (350 tỷ đồng/năm), mộc Vạn Điểm (trên 240 tỷ đồng/năm), mộc Chàng Sơn (282 tỷ đồng/năm); thu nhập bình quân lao động đạt 24 triệu đồng/người/năm.
Tuy nhiên, sự phát triển của các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu Hà Nội thời gian qua còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy mô nhỏ lẻ, sản xuất manh mún, mang tính tự phát; chất lượng và mẫu mã sản phẩm còn đơn điệu; thu nhập người lao động chưa cao. Đáng chú ý, theo Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 07/11/2011), ô nhiễm môi trường làng nghề là thách thức lớn, khó kiểm soát và quy hoạch, làm suy giảm chất lượng sống và tạo rào cản kỹ thuật cho hoạt động xuất khẩu. Trước thực trạng đó, luận án xác định khoảng trống cần nghiên cứu là đánh giá toàn diện sự phát triển của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội theo định hướng phát triển bền vững trên cả ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu tổng quát của luận án: "Làm thế nào để các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay?"
Hệ thống 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể gồm:
- Các nội dung phản ánh sự phát triển của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu là gì?
- Chỉ tiêu đo lường sự phát triển của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu là gì?
- Thực trạng phát triển của các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu ở Hà Nội thời gian qua có những thành công và hạn chế gì? Nguyên nhân của những hạn chế là gì?
- Mục tiêu, yêu cầu phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020 là gì?
- Trong thời gian tới những giải pháp nào cần được chú trọng để có thể phát triển bền vững làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội?
Mục đích nghiên cứu chủ yếu nhằm:
- Hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu.
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu tại Hà Nội trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu của thành phố Hà Nội trên ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các làng nghề sản xuất 6 nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ yếu: (1) Mây tre đan; (2) Sơn mài, khảm trai; (3) Chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp; (4) Thêu, ren; (5) Gốm sứ; (6) Chạm, khắc đá, gỗ, xương, sừng. Nghiên cứu xem xét 2 hình thức xuất khẩu: xuất khẩu qua biên giới (sản phẩm nguyên gốc theo thiết kế nghệ nhân và gia công theo đơn đặt hàng nước ngoài) và xuất khẩu tại chỗ (bán cho khách du lịch quốc tế).
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2006-2011; số liệu sơ cấp thu thập năm 2011.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 6 làng nghề điển hình sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước theo ba nhóm chủ đề chính:
| Nhóm hướng nghiên cứu |
Các tác giả, công trình tiêu biểu và năm công bố |
Trọng tâm nội dung đã giải quyết |
| 1. Phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung |
- Bộ NN&PTNT (2007): Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn - Nguyễn Đình Phan, Trần Minh Đạo, Nguyễn Văn Phúc (2002): Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng - Nguyễn Kế Tuấn và cs (2006): Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam - Con đường và những bước đi - Đỗ Đức Quân (2008): Phát triển bền vững nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp: Thực trạng và giải pháp |
Phân tích thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, mối quan hệ giữa khu công nghiệp và kinh tế nông thôn, đề xuất cơ chế chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung. |
| 2. Phát triển làng nghề truyền thống |
- Đặng Kim Chi (2005): Làng nghề Việt Nam và môi trường - Trần Minh Yến (2003): Luận án TS Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH - Trần Công Sách (2003): Đề tài Bộ Thương mại Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010 - Vũ Thị Thoa và cs (2009): Làng nghề truyền thống đồng bằng sông Hồng sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới - Bạch Thị Lan Anh (2010): Luận án TS Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Đinh Xuân Nghiêm (2010): Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Việt Nam - Lê Trung Thông (2009): Chính sách và cơ chế liên kết nhiều nhà trong sự nghiệp chấn hưng và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam |
Luận giải vai trò của làng nghề truyền thống, tác động của hội nhập WTO, thực trạng ô nhiễm môi trường và đề xuất cơ chế chính sách, liên kết bốn nhà để phát triển bền vững làng nghề nông thôn. |
| 3. Làng nghề thủ công mỹ nghệ |
- Trần Đoàn Kim (2007): Luận án TS Chiến lược marketing đối với hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề Việt Nam đến năm 2010 - Nguyễn Hữu Khải (2006): Thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống - Bùi Xuân Đính (2009): Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi - Hoàng Hà (2011): Đề tài TP Hà Nội mã số 01X-10/01-2010-2 Đánh giá thực trạng và đề xuất các chính sách, giải pháp chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 |
Nghiên cứu sâu về chiến lược marketing, xây dựng thương hiệu hàng TCMN, biến đổi kinh tế - xã hội tại các làng nghề cụ thể và thực trạng sản xuất kinh doanh làng nghề Hà Nội. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu phân tích thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp nói chung, đánh giá làng nghề truyền thống trên giác độ văn hóa - xã hội hoặc môi trường đơn lẻ, hoặc nghiên cứu chiến lược marketing cho một số nhóm hàng thủ công mỹ nghệ. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về vấn đề phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội theo định hướng phát triển bền vững (kết hợp đồng thời kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường) với tầm nhìn đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kế thừa và tổng hợp các khái niệm từ các văn bản pháp quy và nghiên cứu trước:
- Làng nghề và Làng nghề truyền thống (LNTT): Theo Báo cáo của Bộ NN&PTNT và JICA; Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT; Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND ngày 02/7/2009 của UBND TP. Hà Nội. Tác giả xác định: Làng nghề là làng ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lượng cơ sở, số lao động và tỷ trọng thu nhập; LNTT là làng nghề tồn tại lâu đời, quy tụ nghệ nhân, thợ lành nghề, gắn kết dòng họ, tổ nghề và chuẩn mực văn hóa.
- Làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu: Không gian địa lý kinh tế (có thể là một vùng/tiểu vùng gồm nhiều làng vệ tinh xoay quanh hạt nhân), chuyên sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo phục vụ thị trường nước ngoài qua đường xuất khẩu biên giới (sản phẩm nguyên gốc hoặc gia công theo đơn hàng) và xuất khẩu tại chỗ (khách du lịch).
- Khung lý thuyết phát triển bền vững: Căn cứ Chương trình Nghị sự 21 (Rio de Janeiro 1992; Johannesburg 2002), Quyết định 153/2004/QĐ-TTg và Quyết định 432/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phát triển bền vững làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu là việc bảo đảm tăng trưởng kinh tế ổn định, hiệu quả cao, gắn với bảo vệ môi trường sống và ổn định xã hội.
Hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững luận án xây dựng gồm 3 nhóm:
- Nhóm tiêu chí kinh tế: Số lượng làng nghề; giá trị sản xuất; vốn đầu tư; hình thức tổ chức sản xuất (tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình); hạ tầng kỹ thuật - công nghệ và mặt bằng sản xuất; nguồn cung ứng nguyên liệu; thị trường và hệ thống phân phối (kênh trực tiếp và gián tiếp).
- Nhóm tiêu chí xã hội: Giải quyết việc làm (lao động thường xuyên, thời vụ); thu nhập bình quân của người lao động; công tác đào tạo, truyền nghề, nâng cao tay nghề và kiến thức quản lý; bảo tồn phong tục tập quán và bản sắc văn hóa dân tộc.
- Nhóm tiêu chí môi trường: Chính sách, quy định quản lý môi trường tại địa phương; mức độ áp dụng Luật Bảo vệ môi trường; nhận thức và hành vi của người dân về giảm thiểu ô nhiễm môi trường sinh thái làng nghề.
Luận án phân tích 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng: (1) Vốn sản xuất kinh doanh; (2) Nguồn nguyên vật liệu; (3) Thị trường (tiêu thụ sản phẩm, thị trường lao động, thị trường công nghệ); (4) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội; (5) Cơ chế chính sách của Nhà nước và địa phương.
Luận án cũng tổng kết kinh nghiệm phát triển làng nghề của ba quốc gia:
- Nhật Bản: Phong trào "Mỗi thôn làng một sản phẩm" (tỉnh Oita, thập niên 1970); Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống (1974); Luật Khuyến khích phát triển năng lực lao động (1969); chính sách công nhận "nghệ nhân quốc bảo"; thành lập Trung tâm nghiên cứu phát triển mẫu mã; hệ thống bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng không cần tài sản thế chấp.
- Trung Quốc: Phát triển xí nghiệp hương trấn trong công nghiệp hóa nông thôn; phân cấp ngân sách địa phương; chính sách ưu đãi miễn thuế 3 năm cho xí nghiệp hương trấn; cấp tín dụng qua các ngân hàng lớn; bảo hộ sản xuất nội địa; thực hiện chương trình "đốm lửa" chuyển giao khoa học công nghệ về nông thôn.
- Thái Lan: Dự án toàn quốc "Một làng nghề, một sản phẩm" (OTOP, khởi xướng năm 2001) dựa trên ba nguyên tắc (địa phương hướng ra toàn cầu, tự lực sáng tạo, phát triển nhân lực); phát triển thế mạnh chế tác vàng bạc đá quý (kim ngạch đạt 2 tỷ USD năm 1990) và gốm sứ xuất khẩu tại trung tâm Chiềng Mai - Lam Pang (95% gốm xuất khẩu là đồ trang trí nội thất và lưu niệm).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kết hợp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu và hội thảo chuyên gia.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ niên giám thống kê, báo cáo của Sở Công Thương Hà Nội, Sở NN&PTNT Hà Nội, Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, tài liệu dự án JICA, Bộ Thương mại, các viện nghiên cứu và trường đại học giai đoạn 2006-2011.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Điều tra xã hội học trong năm 2011 bằng 02 bộ mẫu phiếu:
- Mẫu phiếu 1 (200 cơ sở sản xuất): Khảo sát bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại các làng nghề tiêu biểu đại diện cho 6 nhóm mặt hàng xuất khẩu: sơn mài Hạ Thái, thêu ren Quất Động, mây tre đan Phú Vinh, mây tre/guột cỏ tế Phú Túc, gốm sứ Bát Tràng, khảm trai Chuyên Mỹ, gỗ mỹ nghệ Vạn Điểm, điêu khắc Hiền Giang. Kết hợp phỏng vấn sâu nghệ nhân và chủ cơ sở.
- Mẫu phiếu 2 (50 nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học): Điều tra cán bộ cấp xã, lãnh đạo/chuyên viên Sở Công Thương, Sở NN&PTNT Hà Nội, chuyên gia Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, nhà khoa học tại các viện, trường đại học.
- Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Kiểm tra, làm sạch phiếu và phân tích định lượng bằng phần mềm chuyên dụng SPSS trên máy tính để thiết lập hệ thống bảng, biểu đồ thống kê mô tả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về làng nghề và phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận về làng nghề và phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu. Tác giả làm rõ các khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề mới, vùng nghề; phân định 6 nhóm ngành sản xuất và các phương thức phân loại làng nghề (theo số lượng nghề, tính chất nghề, quy mô, loại hình kinh doanh). Luận án xác định 5 vai trò kinh tế - xã hội then chốt của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu:
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
- Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn (khảo sát cho thấy mỗi cơ sở sản xuất tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên, 8-10 lao động thời vụ; mỗi hộ làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên, 2-5 lao động thời vụ; các cơ sở dệt, may, thêu ren thu hút 30-50 lao động, cá biệt lên tới hàng trăm người).
- Thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tận dụng thời gian nông nhàn và lao động bổ trợ, thực hiện phương châm "ly nông, bất ly hương" nhằm hạn chế dòng di dân tự do ra đô thị.
- Tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch làng nghề.
- Phát huy nội lực địa phương, bảo tồn và truyền bá các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc.
Chương 1 cũng xây dựng khung tiêu chí đánh giá phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường), phân tích 5 nhân tố tác động (vốn, nguyên liệu, thị trường, cơ sở hạ tầng, cơ chế chính sách) và đúc kết các bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan để vận dụng cho Hà Nội.
Chương 2: Tình hình phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua
Chương 2 trình bày bức tranh thực trạng hoạt động của các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu tại Hà Nội dựa trên dữ liệu thống kê thứ cấp (2006-2011) và kết quả xử lý điều tra sơ cấp (SPSS 2011).
Về khía cạnh kinh tế:
- Phân tích cơ cấu và số lượng làng nghề: Phân bổ số làng nghề xuất khẩu được công nhận theo địa bàn quận, huyện, thị xã (Biểu 2.7) và phân loại theo 6 nhóm nghề (Hình 2.3).
- Giá trị sản xuất và quy mô: Thống kê GTSX của các làng nghề xuất khẩu (Biểu 2.8), số hộ sản xuất (Biểu 2.9), tỷ lệ phân bổ các loại hình cơ sở sản xuất (Biểu 2.10 - kinh tế hộ vẫn chiếm đa số tuyệt đối, tỷ lệ doanh nghiệp và HTX còn thấp).
- Công nghệ và hạ tầng: So sánh hiệu quả kỹ thuật - kinh tế giữa lò hộp truyền thống và lò gas tại làng gốm Bát Tràng (Biểu 2.11); đánh giá thực trạng chất lượng cơ sở hạ tầng đường giao thông, điện, nước, viễn thông tại các làng nghề (Biểu 2.12).
- Nguyên liệu và thị trường: Đánh giá các vùng cung cấp nguyên liệu đá mỹ nghệ (Biểu 2.13), kim ngạch và giá trị xuất khẩu của thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 6 tháng đầu năm 2011 (Biểu 2.14, 2.15), cơ cấu thị trường xuất khẩu theo mặt hàng chính (Biểu 2.16) và tỷ trọng các kênh tiêu thụ sản phẩm nội địa/xuất khẩu (Biểu 2.17).
Về khía cạnh xã hội:
- Quy mô lao động: Đánh giá tổng số lao động trong các làng nghề xuất khẩu (Biểu 2.18); cơ cấu độ tuổi lao động với xu hướng già hóa lao động lành nghề (Hình 2.4).
- Thu nhập và đời sống: Phân tích mức thu nhập bình quân của người lao động phân theo giới tính (Biểu 2.19).
- Trình độ và đào tạo: Thống kê cơ cấu trình độ tay nghề của thợ thủ công (Hình 2.5) và khảo sát nhu cầu đào tạo nghề, quản trị kinh doanh của các cơ sở sản xuất (Hình 2.6).
Về khía cạnh môi trường:
- Tổng hợp đánh giá và nhận thức của người dân về mức độ ô nhiễm không khí, nguồn nước, rác thải rắn tại các làng nghề (Hình 2.7).
Đánh giá tổng hợp:
- Thành công: Tăng trưởng GTSX và kim ngạch xuất khẩu; giải quyết lượng lớn việc làm tại chỗ; tạo chuyển biến trong cơ cấu kinh tế nông thôn; bước đầu ứng dụng công nghệ giảm ô nhiễm (lò gas Bát Tràng).
- Hạn chế: Quy mô sản xuất manh mún; thiếu vốn; công nghệ lạc hậu; phụ thuộc nguồn nguyên liệu bên ngoài; mẫu mã chậm đổi mới; chủ yếu làm gia công xuất khẩu qua trung gian, giá trị gia tăng thấp; ô nhiễm môi trường cục bộ nghiêm trọng.
- Nguyên nhân hạn chế: Cơ chế chính sách hỗ trợ vốn và mặt bằng chưa đồng bộ; liên kết giữa doanh nghiệp và hộ sản xuất lỏng lẻo; công tác đào tạo nghề và thiết kế mẫu mã chưa được đầu tư bài bản; quản lý môi trường cấp xã còn yếu kém.
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020
Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp phát triển làng nghề xuất khẩu Hà Nội:
- Phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế năm 2012, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Hà Nội năm 2013.
- Xác định quan điểm, định hướng phát triển: gắn tăng trưởng sản xuất với bảo vệ môi trường, bảo tồn giá trị văn hóa và xây dựng nông thôn mới.
- Hệ thống mục tiêu cụ thể: Thiết lập các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu Hà Nội đến năm 2020 (Biểu 3.1).
- 4 nhóm giải pháp cơ bản:
- Nhóm giải pháp kinh tế: Hoàn thiện quy hoạch mặt bằng sản xuất và cụm công nghiệp làng nghề; phát triển nguồn nguyên liệu ổn định; hỗ trợ tín dụng và vốn đầu tư đổi mới công nghệ; xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp và gắn kết du lịch làng nghề.
- Nhóm giải pháp xã hội: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng tay nghề và kỹ năng quản lý kinh doanh; phong tặng danh hiệu và đãi ngộ nghệ nhân; giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện an toàn lao động.
- Nhóm giải pháp môi trường: Tăng cường kiểm soát và xử lý chất thải làng nghề; chuyển giao công nghệ sản xuất sạch hơn; nâng cao nhận thức cộng đồng và hoàn thiện cơ chế quản lý môi trường cấp cơ sở.
- Nhóm giải pháp khác: Đổi mới cơ chế phối hợp giữa các sở ban ngành (Sở Công Thương, Sở NN&PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường), nâng cao vai trò của Hiệp hội Làng nghề.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung khung lý luận về làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu, định nghĩa rõ bản chất của làng nghề xuất khẩu như một không gian kinh tế mở vượt khỏi ranh giới hành chính của một làng đơn lẻ.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu thích ứng với bối cảnh kinh tế chuyển đổi và hội nhập quốc tế, tích hợp đồng thời 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế có tính ứng dụng cao từ Nhật Bản (Luật Nghề truyền thống, bảo trợ nghệ nhân, phát triển mẫu mã), Trung Quốc (ưu đãi thuế, tín dụng, chương trình công nghệ cho xí nghiệp hương trấn) và Thái Lan (dự án OTOP, phát triển thị trường ngách).
Đóng góp mới về thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện về các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu của Hà Nội giai đoạn 2006-2011 thông qua việc kết hợp dữ liệu thống kê chính thống và kết quả khảo sát thực tế (200 cơ sở sản xuất tại 6 nhóm ngành hàng và 50 nhà quản lý, chuyên gia).
- Định lượng hóa các khía cạnh tổ chức sản xuất, thu nhập phân theo giới tính, cơ cấu tuổi nghề, nhu cầu đào tạo và mức độ ô nhiễm môi trường theo đánh giá của cộng đồng dân cư.
- Đề xuất hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu đến năm 2020 và 4 nhóm giải pháp đồng bộ (kinh tế, xã hội, môi trường, tổ chức quản lý) có giá trị thực tiễn cho công tác điều hành của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và các cơ quan ban ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát thực địa chuyên sâu trên địa bàn 6 làng nghề điển hình đại diện cho 6 nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Hà Nội, do đó chưa bao quát hết đặc thù riêng biệt của toàn bộ các làng nghề phụ trợ khác trên địa bàn thành phố. Dữ liệu điều tra sơ cấp được chốt tại mốc thời gian năm 2011, phản ánh bối cảnh suy thoái kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2012.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra sang các làng nghề mới hình thành và các nhóm ngành nghề phi truyền thống; nghiên cứu tác động sâu hơn của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với chuỗi cung ứng sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu; xây dựng mô hình định lượng đánh giá định lượng chi tiết mức độ tổn thương môi trường tại từng cụm làng nghề chuyên biệt.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng và lĩnh vực sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: UBND TP. Hà Nội, Sở Công Thương, Sở NN&PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường có căn cứ thực tế để xây dựng quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề, hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn, xúc tiến thương mại và quy chuẩn xử lý môi trường nông thôn.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các học phần Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp và nông thôn, Quản lý kinh tế và Phát triển bền vững. Đặc biệt hữu ích ở phần thiết kế bộ tiêu chí đánh giá bền vững 3 trụ cột và bảng hỏi khảo sát điều tra thực địa làng nghề.
- Hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất: Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, các chủ doanh nghiệp và nghệ nhân tại các làng nghề tham khảo để định hướng chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất, đầu tư công nghệ lò nung sạch, đa dạng hóa kênh phân phối và cải tiến mẫu mã đáp ứng thị hiếu quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn khảo sát sâu những nhóm ngành hàng xuất khẩu nào của Hà Nội?
Luận án tập trung vào 6 nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực: (1) Mây tre đan; (2) Sơn mài, khảm trai; (3) Chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp; (4) Thêu, ren; (5) Gốm sứ; (6) Chạm, khắc đá, gỗ, xương, sừng.
2. Quy mô mẫu khảo sát sơ cấp của tác giả được thực hiện như thế nào?
Tác giả thực hiện khảo sát năm 2011 qua 02 mẫu phiếu điều tra: Mẫu phiếu 1 điều tra 200 cơ sở sản xuất tại các làng nghề nổi tiếng (Hạ Thái, Quất Động, Phú Vinh, Phú Túc, Bát Tràng, Chuyên Mỹ, Vạn Điểm, Hiền Giang...); Mẫu phiếu 2 điều tra 50 cán bộ quản lý xã, lãnh đạo/chuyên viên Sở Công Thương, Sở NN&PTNT, chuyên gia Hiệp hội Làng nghề và các nhà khoa học. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
3. Theo kết quả nghiên cứu, bình quân mỗi cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu tạo việc làm cho bao nhiêu lao động?
Bình quân mỗi cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu tại các làng nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; mỗi hộ chuyên làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ.
4. Luận án phân loại xuất khẩu sản phẩm làng nghề qua những hình thức nào?
Gồm 2 hình thức: Xuất khẩu tại chỗ (bán trực tiếp cho khách du lịch quốc tế tại Việt Nam) và Xuất khẩu qua biên giới (gồm 2 loại: xuất khẩu sản phẩm nguyên gốc theo thiết kế sáng tác của nghệ nhân và gia công hàng loạt theo đơn đặt hàng của đối tác nước ngoài).
5. Luận án đã tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển làng nghề từ những quốc gia nào?
Luận án tổng kết kinh nghiệm từ 3 quốc gia châu Á: Nhật Bản (chính sách "Mỗi thôn làng một sản phẩm", Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống 1974, Trung tâm phát triển mẫu mã), Trung Quốc (xí nghiệp hương trấn, ưu đãi thuế 3 năm, chính sách tín dụng và chương trình công nghệ "đốm lửa"), và Thái Lan (dự án OTOP năm 2001, xuất khẩu gốm Chiềng Mai - Lam Pang và vàng bạc đá quý).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trịnh Kim Liên (2013) là công trình nghiên cứu hệ thống về sự phát triển của các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội dưới lăng kính kinh tế phát triển. Luận án đã xác lập khung lý luận và bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững toàn diện trên 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời phản ánh chân thực thực trạng phát triển giai đoạn 2006-2011 thông qua nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phong phú. Hệ thống quan điểm, mục tiêu và 4 nhóm giải pháp đến năm 2020 được đề xuất trong luận án có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho công tác quản lý, quy hoạch và phát triển kinh tế làng nghề của Thủ đô Hà Nội.