CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ðỀ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU 1. Làng nghề và làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu 1. Khái niệm làng nghề Làng là ñơn vị cư trú cơ bản của nông thôn Việt Nam và ñược hình thành từ rất sớm. Làng ra ñời gắn với hai yếu tố “ñịnh canh” và “ñịnh cư”.
Ở những khu vực nào mà dân cư ñã ñịnh canh sẽ dẫn ñến việc ñịnh cư và ñã ñịnh cư, ñịnh canh thì làng xuất hiện. Làng quê Việt Nam là nơi sản sinh ra các nghề thủ công và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hóa, văn minh dân tộc. Lâu nay các quan niệm về làng nghề còn có nhiều ý kiến khác nhau, luận án chỉ ñề cập một số khái niệm ñã và ñang ñược sử dụng khá phổ biến. Báo cáo nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng Công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam của Bộ NN&PTNT và JICA [9, phần I mục 3, tr 3-13] có ñưa ra một số ñịnh nghĩa mang tính chất tham khảo sau: - Làng nghề: là làng nông thôn ñáp ứng các ñiều kiện: 1) nguồn thu nhập chính là từ nghề thủ công; 2) trên 30% số hộ hoặc số lao ñộng tham gia vào sản xuất hàng thủ công; 3) chấp hành các chính sách của chính quyền ñịa phương.
- Làng nghề truyền thống: là làng nghề ñáp ứng các ñiều kiện: 1) có từ trước thế kỷ 19; 2) sản xuất và cung cấp các sản phẩm có tính ñộc ñáo và ñược công nhận rộng rãi. - Sản phẩm truyền thống: là sản phẩm thủ công truyền thống ñược truyền lại qua các thế hệ từ trước thế kỷ 19 mà vẫn giữ ñược nguyên gốc, có thể sử dụng máy móc ở một vài công ñoạn hỗ trợ nhưng vẫn giữ ñược các kỹ thuật truyền thống. Các sản phẩm ñang có nguy cơ thất truyền và cần bảo tồn. Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị ñịnh số 66/2006/Nð-CP, ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, lại ñưa ra những khái niệm về nghề và làng nghề như sau: [6, tr 1] 13 - Nghề truyền thống: là nghề ñã ñược hình thành từ lâu ñời, tạo ra những sản phẩm ñộc ñáo, có tính riêng biệt, ñược lưu truyền và phát triển ñến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.
Nghề ñược công nhận là nghề truyền thống phải ñạt ba tiêu chí sau: Nghề ñã xuất hiện tại ñịa phương từ trên 50 năm tính ñến thời ñiểm ñề nghị công nhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. - Làng nghề: là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum sóc hoặc các ñiểm dân cư tương tự trên ñịa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt ñộng ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề ñược công nhận phải ñạt 03 tiêu chí sau: Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên ñịa bàn tham gia các hoạt ñộng ngành nghề nông thôn; Hoạt ñộng sản xuất kinh doanh ổn ñịnh tối thiểu 2 năm tính ñến thời ñiểm ñề nghị công nhận; Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Làng nghề truyền thống: là làng nghề có nghề truyền thống ñược hình thành từ lâu ñời.
Làng nghề truyền thống phải ñạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy ñịnh tại Thông tư số 116/2006/TT- BNN. ðối với những làng chưa ñạt tiêu chuẩn có tối thiểu 30% tổng số hộ và có tối thiểu 2 năm hoạt ñộng SXKD ổn ñịnh, nhưng có ít nhất một nghề truyền thống ñược công nhận theo quy ñịnh của Thông tư 116/2006/TT- BNN thì cũng ñược công nhận là LNTT. Theo Quyết ñịnh số 85/2009/Qð-UBND, ngày 2/7/2009 của UBND Thành phố Hà Nội, tiêu chuẩn xét công nhận danh hiệu “Làng nghề truyền thống Hà Nội”, như sau: [72, tr 3] 1) Về thời gian: Là làng có nghề ñã ñược hình thành trên 50 năm tính ñến ngày làng ñược ñề nghị xét danh hiệu LNTT. 14 2) Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làng chiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng.
3) Về sử dụng lao ñộng: Có tối thiểu 30% số hộ trên ñịa bàn tham gia hoạt ñộng ngành nghề nông thôn. 4) ðảm bảo VSMT và ATLð theo các quy ñịnh hiện hành. 5) Chấp hành tốt ñường lối, chủ trương của ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy ñịnh của Thành phố và ñịa phương. 6) Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hóa dân tộc, phải gắn với tên tuổi của làng.
7) ðối với những làng nghề chưa ñáp ứng tiêu chuẩn về môi trường theo quy ñịnh tại ñiểm 4 vẫn ñược xem xét công nhận danh hiệu LNTT khi ñã có các ñề án, dự án nghiên cứu ñánh giá tác ñộng môi trường và ñề ra các biện pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, một số Bộ, ngành liên quan còn ñưa ra một số khái niệm liên quan ñến làng nghề như sau: [73, tr12,13] - Làng có nghề: Là làng ñược hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế chủ yếu do sự lan tỏa của LNTT, có những ñiều kiện thuận lợi ñể phát triển. Trong ñó làng có số hộ, số lao ñộng sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên. - Làng nghề mới: Là làng nghề ñược hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chủ yếu do sự lan tỏa của LNTT, có những ñiều kiện nhất ñịnh ñể hình thành và phát triển.
- Vùng nghề: là sự phát triển, mở rộng của các làng nghề ra các vùng lân cận thành cả một vùng làm nghề thủ công, mà làng nghề là trung tâm; sản phẩm của vùng nghề thường theo ñúng phong cách truyền thống của làng nghề. Tên của vùng nghề thường lấy tên của làng nghề ñể gọi. Một số trường hợp ñặc biệt, một làng kinh doanh các mặt hàng thủ công của các làng nghề lân cận, khiến cho tên của làng kinh doanh ñó trở thành quen thuộc với thị trường do ñó tên của làng kinh doanh ñó lại ñược quen gọi thành tên của vùng nghề, bao gồm cả làng kinh doanh và các làng nghề lân cận. 15 Tóm lại, các khái niệm liên quan ñến làng nghề thường ñược hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau.
Trải qua nhiều bước phát triển, có thể thấy cho ñến nay làng nghề không còn bó hẹp trong khuân khổ công nghệ thủ công. Tuy thủ công vẫn là chính, song có một số công ñoạn sản xuất ñã ñược cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa. Trong các làng nghề không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà ñã có những cơ sở cung cấp dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối hàng hóa, cung ứng các ñầu vào và ñầu ra cho các sản phẩm làng nghề. Các khái niệm liên quan ñến làng nghề trên ñây là cơ sở pháp lý ñể các cấp quản lý ban hành các chính sách công nhận làng nghề, LNTT.
ðồng thời, là căn cứ khoa học ñể tác giả triển khai nghiên cứu luận án. Từ quan niệm về làng nghề ñược nêu bởi các cơ quan, tổ chức khác nhau trên ñây, theo tác giả khái niệm làng nghề và LNTT ñược hiểu như sau: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề không phải là nông nghiệp mà chúng chiếm ưu thế về số lượng, số lao ñộng và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông. Làng nghề truyền thống là làng nghề ñược tồn tại và phát triển lâu ñời trong lịch sử, trong ñó gồm một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và ñội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia ñình chuyên làm nghề truyền thống lâu ñời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và ñặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước lệ xã hội và gia tộc.
ðặc ñiểm cơ bản của làng nghề Từ thực tế hoạt ñộng sản xuất kinh doanh tại các làng nghề có thể khái quát một số ñặc ñiểm cơ bản của làng nghề như sau: - ðặc ñiểm về trình ñộ công nghệ: Công nghệ sản xuất của hầu hết các làng nghề mang tính truyền thống, có từ lâu ñời. Công cụ lao ñộng chính của người thợ là ñôi bàn tay và các dụng cụ, thiết bị ñơn giản, do vậy năng suất thấp, quy mô sản xuất nhỏ, tiêu hao nguyên liệu lớn. Kỹ thuật ñặc biệt nhất của LNTT là ñôi bàn tay vàng của người thợ ñược tích lũy qua nhiều thế hệ, giữ ñược tính chất bí truyền của nghề, ñặc ñiểm này ñã ñem lại 16 những ñặc tính riêng biệt và sự quý hiếm và quyết ñịnh chất lượng của sản phẩm. ðôi bàn tay của người thợ thủ công thường làm những công ñoạn kỹ thuật ñòi hỏi sự tinh tế và khéo léo khó có máy móc thiết bị nào thay thế ñược.
Tuy nhiên, chính ñặc ñiểm này làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của nhiều làng nghề thấp, khả năng cạnh tranh của nhiều làng nghề bị hạn chế. - ðặc ñiểm về trình ñộ quản lý, tổ chức sản xuất: Lịch sử phát triển làng nghề trong các giai ñoạn qua cho thấy hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến nhất là hình thức hộ gia ñình. Ngoài ra, trong làng nghề còn có một vài loại hình sản xuất khác như: doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác… Hộ gia ñình là một ñơn vị cơ bản của sản xuất trong các làng nghề nông thôn, với nguồn lực là các thành viên trong gia ñình và cơ sở hạ tầng sẵn có, chỉ khi thời vụ hoặc khi cần sản xuất hàng với số lượng lớn mới cần thuê thêm lao ñộng. Những nghề ñơn giản ít công ñoạn thì hộ sản xuất sẽ ñảm bảo từ công ñoạn ñầu cho ñến công ñoạn cuối.
Các nghề phức tạp, có nhiều công ñoạn, chi phí cho công ñoạn ñó càng lớn thì càng dễ ñược chuyên môn hóa. Mỗi gia ñình chỉ thực hiện một trong các công ñoạn của quá trình sản xuất. - ðặc ñiểm về nguyên liệu cho sản xuất: Nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất của làng nghề chủ yếu là nguyên liệu sẵn có ở ñịa phương và trong nước như tre nứa, song, mây, gỗ, sừng, tơ tằm,.; việc tận dụng phế liệu cho sản xuất cũng ñược coi trọng.