Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển lâm nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chương 3: Thực trạng phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2025, tầm nhìn 2035.
7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Trên thế giới, những năm gần đây vấn đề phát triển lâm nghiệp hướng thành sản xuất hàng hóa lớn trong nền kinh tế thị trường, gắn với bảo vệ môi trường, gắn với các giảm nghèo và sinh kế nông thôn vùng cao và hướng tới phát triển bền vững được nhiều học giả quan tâm. Có thể khái quát những khía cạnh xung quanh chủ đề này trong các nghiên cứu gần đây như sau: 1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề chung có liên quan đến lâm nghiệp và phát triển lâm nghiệp Trong các nghiên cứu về lâm nghiệp như: Cao Guangxia (1997) [96]; Cadeliha.B (1997) [101]; Prado (1995) [52]; Fesfferson Fox và Deanna Donoran (1997) [51]; Chist Garforth (1996) [23]; các học giả đã khái quát về ngành lâm nghiệp vị trí, vai trò, đặc trưng của lâm nghiệp, để phát triển ngành lâm nghiệp tránh khai thác một cách cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên thì các công trình nghiên cứu đã nghiên cứu làm sao quản lý được nguồn tài nguyên thiên nhiên này và góp phần giải quyết các vấn đề về kinh tế xã hội của người dân ở vùng có rừng đó là phát triển lâm nghiệp cộng đồng, lâm nghiệp xã hội gắn với giải quyết các mối quan hệ giữa người dân với tài nguyên rừng, giải quyết vấn đề phá rừng, khai thác tài nguyên thiên nhiên quá đáng.
Trong quá trình phát triển lâm nghiệp có nhiều đối tượng tham gia với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Các đối tượng tham gia vào phát triển lâm nghiệp theo hướng tiếp cận thể hiện ai tham gia vào quá trình đó, ai là người ra quyết định và quá trình đó được thực hiện như thế nào? Don Gilmour [100] phân làm 3 hình thức tiếp cận trong phát triển lâm nghiệp đó là: tiếp cận cổ điển, tiếp cận cổ điển có điều chỉnh và tiếp cận có người dân tham gia. Tiếp cận cổ điển được thể hiện qua các nhà lâm nghiệp nhận biết các vấn đề về phát triển lâm nghiệp và ra quyết định chiến lược và trực tiếp tổ chức thực hiện. Phát triển lâm nghiệp được coi là một hoạt động mang tính kỹ thuật mà không có sự tham gia của người dân và cộng đồng, họ hầu như 8 không tham gia hoặc không được tham gia vào việc tổ chức thực hiện với tư cách là người làm thuê theo các công đoạn đã được xác định; còn ở hình thức tiếp cận cổ điển có điều chỉnh thì nhà quản lý lâm nghiệp vẫn quản lý toàn bộ quá trình của sự phát triển.
Trong khi xác định chiến lược hay kế hoạch và tổ chức thực hiện đã có sự tham khảo ý kiến và huy động người dân cùng tham gia. Tuy nhiên, quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các nhà lâm nghiệp; còn ở hình thức tiếp cận có sự tham gia của người dân và các nhà lâm nghiệp vào tất cả các giai đoạn phát triển từ nhận biết vấn đề, xác định chiến lược và tổ chức quản lý thực hiện ở hình thức tiếp cận này về cơ bản người được quyền ra các quyết định trong sự phát triển lâm nghiệp. Đây là hướng tiếp cận tốt nhất và hiệu quả nhất vì người dân khi tham gia như vậy họ có quyền quyết định làm sao tốt nhất cho chính lợi ích của họ và họ muốn lợi ích được lâu dài và bền vững thì người dân phải BV&PTR theo hướng bền vững. Pardo, trong công trình nghiên cứu khoa học (1995) [52], đã đề cập đến phát triển lâm nghiệp cộng đồng và lâm nghiệp xã hội ở Nêpal, Thái Lan và Philippin.
Theo tác giả đã có những bước thành công trong việc xây dựng các chương trình lâm nghiệp cộng đồng ở Nêpal và Thái Lan còn Philippin thành công trong việc xây dựng chương trình lâm nghiệp xã hội. Tác giả đã rút ra những nhân tố chính đã góp phần tạo nên sự thành công của các dự án và chương trình đó. Các nhân tố đó bao gồm xác định rõ mục tiêu quản lý, cơ chế lợi ích rõ ràng, có thể chế phù hợp, các công cụ quản lý phù hợp, phối hợp và liên kết chặt chẽ của các chương trình trên nhằm phát triển ngành lâm nghiệp. Fesfferson Fox và Deanna Donoran (1997) [51], Nghiên cứu đã đi sâu về LNXH trong đó Deanna Donoran cho rằng “LNXH đặt con người là trọng tâm, người sử dụng trở thành người sản xuất, do đó người ra quyết định không chỉ liên quan đến khai thác sử dụng mà còn phải quan tâm phát triển nguồn tài nguyên rừng”, Công trình nghiên cứu đã tổng kết những bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển lâm nghiệp xã hội ở một số Châu Á trong thời gian qua và rút ra các khó khăn và trở ngại chính cho quá trình phát triển lâm nghiệp đó là do sự lạc hậu của các chương trình đào tạo, những định kiến không đúng về dân tộc, văn hóa, lịch sử và con người bản địa.
Thái độ và quan điểm lạc hậu của các cán bộ chính quyền địa phương, người dân thiếu niềm tin vào chính phủ. Ngoài ra còn các yếu tố khác như không hiểu rõ các mối quan hệ trong cộng đồng, thiếu sự quan tâm, hỗ trợ của chính phủ, thiếu kỹ năng 9 trong quản lý và tổ chức phát triển ngành lâm nghiệp xã hội. Ngoài ra Chist Garforth (1996), LNXH có thể được xem dưới các khía cạnh công nghệ, hoạt động xã hội - nhân văn và sự can thiệp từ bên ngoài [23]. Để ngành lâm nghiệp phát triển thì nhân tố con người rất quan trọng và mang yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững trong đó người dân cư vùng cao, vùng sâu xa sống và canh tác trên mảnh đất lâm nghiệp và hưởng lợi từ lâm nghiệp do vậy để đánh giá được mức độ tham gia của người dân đến quá trình phát triển lâm nghiệp (thể hiện trong lâm nghiệp xã hội khác với lâm nghiệp truyền thống) thì theo Yadav G.B (1997) [101], phân chia ra 7 mức độ tiêu chí tham gia của người dân đó là: người dân có tính chất vận động; người dân tham gia bị động; người dân tham gia qua hình thức tư vấn; người dân tham gia vì mục tiêu được các hỗ trợ từ bên ngoài; người dân tham gia hỗ trợ; người dân tự huy động và tổ chức thực hiện phát triển lâm nghiệp.
Tuy nhiên trong các nghiên cứu trên các tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ cộng đồng của người dân địa phương, văn hóa, tín ngưỡng để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với các đặc trưng văn hóa, lịch sử của mỗi nhóm xã hội tạo ra cho họ một mô hình riêng, giải pháp đa dạng các hình thức quản lý và phát triển quản lý lâm nghiệp trên cơ sở cộng đồng. Tình hình nghiên cứu các vấn đề về quản lý, luật pháp, tổ chức sản xuất và phát triển lâm nghiệp theo hƣớng bền vững Trong các nghiên cứu của World Bank (2007) [112]; Messerschmidt.Linday, Patrice Tallakam (2007) [102]; World Bank (2009) [108]; Sofia R. Hirakuri (2003) [110]; đã cho thấy việc phát triển ngành lâm nghiệp ở các quốc gia nghiên cứu đều phải dựa trên luật pháp, sự thay đổi của pháp luật, quản lý, vấn đề sở hữu, tổ chức sản xuất và phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững phải gắn với vấn đề xóa đói giảm nghèo tăng thu nhập cho người dân vùng cao, giải quyết các vấn đề về môi trường, việc làm, gắn trách nhiệm của người dân với vấn đề bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức Ngân hàng thế giới (2007) [111], Nghiên cứu này xác định pháp luật lâm nghiệp phải tuân thủ trong khuân khổ pháp luật chung, rộng lớn hơn, khám phá mối quan hệ phức tạp của nó với các ngành luật khác.
Vấn đề đất đai đang được đối 10 xử đặc biệt vì các mối quan hệ giữa quyền tiếp cận, quyền sử dụng rừng và quyền sử dụng đất là rất quan trọng. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng tìm hiểu và cho chúng ta hiểu chi tiết về quy định pháp luật đối với quản lý rừng lõi như pháp luật rừng, quy hoạch, cấp phép và quản lý rừng tư nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp. Xem xét vai trò của các tổ chức quốc gia trong việc quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên rừng. Nghiên cứu này kết luận với một số phản ánh về cách tính hiệu quả của pháp luật về rừng có thể được tăng cường bởi sự chú ý đến các nguyên tắc hướng dẫn soạn thảo pháp luật.
Nghiên cứu của ngân hàng thế giới (2009) [108], nêu một số về cơ chế, chính sách liên quan đến sự đóng góp của rừng đối với quá trình xóa đói giảm nghèo ở các vùng núi, vùng sâu vùng xa, tham gia của hộ gia đình, khu vực tư nhân, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cho các sản phẩm rừng. Tối ưu hóa các chức năng của rừng ở cấp độ cảnh quan, cải thiện quản lý rừng, lồng ghép rừng ở chính sách vĩ mô và khu vực theo dõi các hoạt động lâm nghiệp. Từ đó ngân hàng thế giới cũng đưa ra một số giải pháp nhằm quản lý và phát triển rừng bền vững trong thời gian tới.A, (1993) [103], tác giả đã nhìn nhận nguyên nhân dẫn đến sự không thành công của chương trình phát triển lâm nghiệp trước những năm 1988 ở Ấn Độ là do sự nhận thức chưa đầy đủ vai trò tham gia của người dân, chưa có cơ chế, chính sách phân phối lợi ích hợp lý và rõ ràng giữa người dân, cộng đồng và nhà nước. Sau đó Chính phủ đã có sự điều chỉnh về chính sách phát triển ngành lâm nghiệp dẫn đến thành công đó là người dân đã tích cực tham gia vào sản xuất và phát triển lâm nghiệp, có được điều đó tác giả chỉ ra là do: thứ nhất, là đã tạo ra cơ chế phân phối lợi ích giữa nhà nước, cộng đồng và người dân.